Giới thiệu cuốn “Những Mô hình Quản trị Kinh điển” (bản dịch của “Key Management Models”

Key Management Models
Bìa cuốn "Những Mô hình Quản trị Kinh điển" (Key Management Models).

Trân trọng giới thiệu cuốn sách Giang tham gia dịch: Những Mô hình Quản trị Kinh điển“, bản dịch tiếng Việt cuốn “Key Management Models – The 60+ Models Every Manager Needs to Know” của tác giả Marcel Van Assen, Gerben Van Den Berg và Paul Peitersma, các chuyên gia tư vấn chiến lược tại tập đoàn tư vấn Berenschot.

Cuốn sách gồm hơn 60 mô hình chiến lược kinh doanh chính yếu mà các nhà quản lý cấp cao và giới học thuật kinh doanh đã và đang sử dụng. Các mô hình được chia làm 3 nhóm: (i) nhóm các mô hình CHIẾN LƯỢC; (ii) nhóm các mô hình CHIẾN THUẬT và (iii) nhóm các mô hình SẢN XUẤT.

Cuốn sách giúp các nhà quản lý nắm bắt được tổng quan các mô hình có thể ứng dụng vào công việc kinh doanh của mình và đưa ra nhiều thông tin giúp so sánh và lựa chọn mô hình hoặc những mô hình có thể thích hợp với điều kiện cụ thể của từng tổ chức.

“Key Management Models” là một cuốn sách nên sử dụng để tra cứu. Mỗi mô hình đều cần thời gian để hiểu, suy ngẫm và tìm hiểu thêm ngoài giới hạn trang sách để đi đến những quyết định ứng dụng đúng đắn. Cuốn sách cũng giúp cho các giảng viên kinh doanh và quản trị có một dàn ý chuẩn cho bài giảng của mình.

Để dịch cuốn sách này, dịch giả cũng mất rất nhiều thờ gian tham khảo và lựa chọn các thuật ngữ kinh doanh tiếng Việt, đặc biệt là các từ chưa có từ tiếng Việt tương đương như “innovation” (sáng tân) hay “bench-marking” (so chuẩn).

Bản dịch tiếng Việt do Alpha Books xuất bản tháng 6/2011.

2 Comments Add yours

  1. sonkaisen says:

    Anh Giang,
    – Từ innovation dịch là sáng tân nghe xa lạ quá, mình ít khi dùng từ này.Sao anh không để là ” đổi mới”
    – Từ benchmarking trong các tài liệu việt, lâu này mĩnh vẫn dùng là ” đối chuẩn ” hay ” chuẩn so sánh”.

    Thân

    sonkaizen

    1. gmtvn says:

      Các từ tiếng Việt trước đây của benchmarking và innovation đều chưa rõ nghĩa, chưa ngắn gọn hoặc trùng lặp với từ khác. Ví dụ “đổi mới” sẽ trùng với “renew”, “renovation” hay “reform” vốn là các từ quen thuộc được sử dụng khi dịch “công cuộc đổi mới” ở Việt Nam.

      Mục tiêu đưa ra các từ mới là tránh các lỗi trên. Việc các từ mới có được thừa nhận hay không sẽ còn tùy thời gian, mục đích và ngữ cảnh sử dụng.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s