Hà Nội – chuyện muôn thuở | XE, NGƯỜI, BỤI
Tôi về nước từ 2006. Khi đó tôi nhớ khoảng 8h ra đường thì bắt đầu chớm có đôi chỗ ách tắc giao thông. Đường phố khi đó cũng bắt đầu bụi bặm hơn, chủ yếu là do xe tải chở đất cát xây dựng làm vung vãi ra đường. Khi đó vẫn chẹp miệng, Hà Nội ta sắp to và đẹp rồi đây, bụi 1 tí không sao, hy sinh dăm năm thôi, văn minh hơn là sẽ hết.
5 năm qua, môi trường của Hà Nội đã xuống cấp nhiều quá thể. Xe đất cát quá trọng tải cứ ngang nhiên tra tấn nhau. Nhiều chú còn chẳng thèm che đậy, chủ động nộp phạt trước rồi, che làm gì cho nó “tay to”. Có lẽ bụi Hà Nội không thể gọi là “hạt” được nữa rồi mà phải gọi là “viên”, vâng “viên bụi”. Lần nào vác 2 bánh đi đâu cũng không khó tránh khỏi vài viên nhào vào mắt. Chắc độ dăm năm nữa, anh chị em ra đường phải sắm cái kính râm “chống đạn”, chứ mà dính mấy viên bụi Hà Nội thì vỡ kính chứ chả chơi. Quản lý không quyết liệt thì thi hành không nghiêm. Thi hành không nghiêm thì luật không bằng lệ. Khổ thì khổ chung, từ ông dân thường, ông thi hành cho tới ông quản lý, ngồi ở nhà hay đi ra đường, ông nào chẳng phải hít không khí Hà Nội. Quyết liệt một cái, có phải cả Hà Nội đều được sướng không.
Mùa hè, đang ở trong ngõ vắng mà ra đường lớn thì biết tay nhau ngay, nhất là dừng đèn đỏ kẹt vào giữa 3-4 ông ô tô thì tha hồ mà ấm. Hóa ra Hà Nội nóng và ngột ngạt hơn nhiều phần lớn là tại khí thải của hàng triệu cái xe.
Mấy Bác nhà giàu thì bảo tại chú lười chứ chú cứ đi 4 bánh cho anh, vừa mát mà lại đảm bảo bụi chỉ dám ngắm mắt của chú qua kính thôi. Dạ vâng, muốn lắm, cơ mà muốn đi 4 bánh thì phải đi từ mấy giờ sáng đây? về lúc mấy giờ đây? đỗ xe ở đâu để không bị phạt đây? (mà có chỗ đỗ cho là may). Muốn đi 4 bánh 24/24 thì tôi phải thêm 2-3 tiếng đồng hồ vào lịch của mình chỉ để giải quyết khâu “đi và đến”.
Trước đây 8h ra đường mới hơi tắc đường, bây giờ 7h30 ra đường là đã như “nêm” được 5-10 phút rồi. Trước đây 5h chiều mới bắt đầu đông xe thì bây giờ 4h30 đã thành giờ siêu cao điểm. Chẳng mấy báo đài nói về cái căn nguyên của sự “Bùng nổ Người và Xe” ấy để mà giải quyết phần gốc. Người ta cứ hờ hững ở phần ngọn. À, nhiều xe quá thì ta cấm chú biển chẵn, chặn chú biển lẻ. À, vi phạm nhiều quá thì ta tăng tiền phạt lên (cho dân sợ chứ cái tiền phạt ấy chẳng vào được ngân sách là bao), ai nhiều tiền thì cứ vi phạm. À, dưới đất hết đường thì ta mở đường trên cao. À, đất chật mà người đông thì ta mở rộng thêm đất, người tha hồ mà đông thêm. À nội thành chật chội quá thì chuyển bớt người nội thành qua sông…
Nhiều giải pháp quá. Cơ mà xe có giảm đi không? người có giảm đi không? bụi có giảm đi không? Hoan nghênh nhất là hệ thống tàu điện. Mong đợi từng ngày.
Cái sự đông người chẳng phải do dân Hà Nội đẻ nhiều. Cái sự đông xe cũng chỉ một phần do dân Hà Nội thích mua xe.
Người Hà Nội bây giờ hiếm có gia đình nào dám có 3 con trở lên. Tôi quen đôi ba người thì toàn nhà siêu giàu mới dám thế thôi. Người đông là do lượng nhập cư vào Hà Nội nhiều quá. Từ cả chục năm nay, ngày một nhiều. Ví dụ, cứ vào cafe, quán ăn, rửa xe… thì biết. Mà lao động trẻ em thì vô tội vạ. Những nhóc tì ấy có mấy đứa được học hành. Rồi khi lớn lên, ai quản lý, ai giáo dục, ai kiểm soát? Rồi chục năm sau chúng có gia đình, sinh con. Khi ấy thì ai quản lý, ai giáo dục, ai kiểm soát? Quán xá ngày một nhiều thì lao động nhập cư ngày một nhiều. Có mỗi dân nhậu nhà ta là được hưởng lợi vì giá nhậu hết sức phải chăng từ chi phí lao động đã rẻ bèo lại chẳng phải nộp đồng thuế nào. Ông giao thông bó tay, ông quy hoạch cũng bó tay, ông dân số cũng bó tay, vì không thuộc quyền hạn hay trách nhiệm. Cứ thử làm chặt cái vụ lao động giá rẻ này 1 năm xem nào, Hà Nội vơi đi trông thấy ngay. Lao động giá rẻ ít đi cũng là cơ hội để người Hà Nội giảm cái việc trưng dụng vỉa hè để kiếm thêm thu nhập. Mức sống của họ dẫu nghèo vẫn cao hơn người ở xứ khác đến nên giá lao động của họ đương nhiên phải cao hơn. Người lao động phổ thông nhập cư chịu ở chật, ở chung, chịu lương thấp, chịu hy sinh 5-10 năm cực khổ, miễn là trụ được ở cái đất Hà Nội này là được.
Sang cái chuyện xe cộ. Chả hiểu cái kiểu biển chẵn lẻ dựa trên cái lô-gíc gì. Ở Bắc Kinh, họ thu phí lưu thông nội thành. Cứ anh nào hộ khẩu Bắc Kinh thì phải chịu thêm phí. Đúng rồi, đất chật, đường tốt, xe anh chạy làm ra nhiều của cải hơn, anh phải trả thêm là đúng. Anh nào ở tình khác muốn vào nội thành thì cũng phải trả thêm cái phí đó trong thời gian lưu thông. Vậy là công bằng. Kiểm soát thì dùng trạm thu phí, phiếu thu cho tí keo để dán lên kính, dễ không. Ví dụ phiếu màu đỏ thì là xe Hà Nội nộp theo năm, phiếu màu xanh thì là xe tỉnh ngoài vào nội thành, thu theo ngày hoặc theo tuần, theo tháng, tùy chọn. Nếu sợ không phân biệt được thì dùng phiếu mã vạch, quét lúc xe ra khỏi trạm kiểm soát, sẽ biết ngay xe ở trong nội thành bao nhiêu ngày, có nộp đủ theo quy định hay không. Người ta làm được rồi, mình cứ ôm công nghệ về mà áp dụng cũng đc, đỡ phải “tư duy”.
Tiền thu cũng khó thất thoát hơn cái việc tính vào giá xăng với giá dầu. Có phải mỗi xe cộ dùng đến xăng dầu đâu. Còn việc phạt thì mấy chú công an lo việc phạt. Tiền có vào ngân sách không thì tùy các chú, nhưng cơ bản là phải phạt để người ta mua phiếu. Ở HN thì phải áp dụng thu phí thêm cả xe 2 bánh. Chi phí lên thì nhu cầu sẽ giảm xuống, quy luật kinh tế mà, ai cãi được. Nhưng chi phí phải thực sự đáng kể thì cầu nó mới giảm đi cho. Chi phí thấp, có người sở hữu tới vài cái xe máy. Chi phí cao, người ta còn bán xe đi để rủ nhau đi chung.
Tiếp đến là cái vụ gửi xe. Sao lại cứ phải hạn chế thu phí gửi xe ô tô 10-20k chứ. Cứ thu cao thì tự khắc chỉ có nhà giàu mới đi ô tô thôi. Xe thì có thể rẻ như bèo, nhưng phí đỗ xe cao thì cái anh xe rẻ sẽ tự khắc phải chuồn thôi. Thậm chí có thể công bố mức thu phí của từng đoạn phố, phố nào càng nhiều xe thì càng thu cao cho nó bớt xe đi. Anh nào ít tiền thì chịu đi bộ xa 1 tí. Ô tô thì có điểm trông giữ, tại sao xe máy lại không? Vỉa hè là điểm công cộng, đằng nào thì người đi bộ cũng không được hưởng thì sao không giao 100% cho phường tận thu. Tạm chưa nói đến số tiền đó đi đâu vì sẽ sang 1 câu chuyện khác, nhưng sẽ được cái vỉa hè xe cộ xếp ngăn nắp hơn, có tiền trả cho những người quản lý vỉa hè, có khi người đi bộ lại có nhiều cơ hội “lách” trên vỉa hè hơn là phải “đi” dưới lòng đường đầy hiểm họa. Phải mất tiền gửi xe nhiều cũng khiến người ta ít vác xe ra đường hơn. Người thu nhập chưa cao sẽ bớt được chi phí ăn trưa, nhậu chiều mà về với gia đình. Âu cũng là cách tiết kiệm được 1 khoản ngân sách gia đình kha khá.
Lần nào ra đường về cũng thấy bức bối nên mới viết vậy thôi, mong các Bác nhiều xe thông cảm mà đại xá cho. Nói và làm vốn có cái khác biệt to đùng mang tên là “delay” mà. Nhất là cái anh “hay nói” với cái ông “có thể làm” lại không phải 1 người thì các Bác lại càng chẳng phải lo lắng hay ghét bỏ làm gì cái thằng “tôi” nhiều chuyện, cứ thoải mái mà “tham gia” thêm xe vào giao thông, còn khoảng trống nào trên đường thì ta bịt nốt, còn trống còn bịt, vậy là đảm bảo sự công bằng về tốc độ tham gia giao thông của mọi phương tiện na ná như nhau.
Hà Nội, 24.07.2011
Giới thiệu cuốn “Những Mô hình Quản trị Kinh điển” (bản dịch của “Key Management Models”
Trân trọng giới thiệu cuốn sách Giang tham gia dịch: “Những Mô hình Quản trị Kinh điển“, bản dịch tiếng Việt cuốn “Key Management Models – The 60+ Models Every Manager Needs to Know” của tác giả Marcel Van Assen, Gerben Van Den Berg và Paul Peitersma, các chuyên gia tư vấn chiến lược tại tập đoàn tư vấn Berenschot.
Cuốn sách gồm hơn 60 mô hình chiến lược kinh doanh chính yếu mà các nhà quản lý cấp cao và giới học thuật kinh doanh đã và đang sử dụng. Các mô hình được chia làm 3 nhóm: (i) nhóm các mô hình CHIẾN LƯỢC; (ii) nhóm các mô hình CHIẾN THUẬT và (iii) nhóm các mô hình SẢN XUẤT.
Cuốn sách giúp các nhà quản lý nắm bắt được tổng quan các mô hình có thể ứng dụng vào công việc kinh doanh của mình và đưa ra nhiều thông tin giúp so sánh và lựa chọn mô hình hoặc những mô hình có thể thích hợp với điều kiện cụ thể của từng tổ chức.
“Key Management Models” là một cuốn sách nên sử dụng để tra cứu. Mỗi mô hình đều cần thời gian để hiểu, suy ngẫm và tìm hiểu thêm ngoài giới hạn trang sách để đi đến những quyết định ứng dụng đúng đắn. Cuốn sách cũng giúp cho các giảng viên kinh doanh và quản trị có một dàn ý chuẩn cho bài giảng của mình.
Để dịch cuốn sách này, dịch giả cũng mất rất nhiều thờ gian tham khảo và lựa chọn các thuật ngữ kinh doanh tiếng Việt, đặc biệt là các từ chưa có từ tiếng Việt tương đương như “innovation” (sáng tân) hay “bench-marking” (so chuẩn).
Bản dịch tiếng Việt do Alpha Books xuất bản tháng 6/2011.
Từ Lybia tới khủng hoảng năng lượng thế giới cận kề
Có lẽ ít có cuộc tấn công nào được thông qua và thực hiện nhanh như việc pháo kích và không kích lần này của liên quân vào Lybia. Một Iraq nữa xuất hiện, lần này nhanh và quyết liệt hơn.
Nếu nhìn bản đồ trữ lượng dầu thế giới, mà với tốc độ tiêu thụ hiện nay theo thống kê World Energy 2010 thì chỉ còn đủ dầu cho thế giới khoảng 45 năm, sẽ thấy EU đang tìm lối thoát về năng lượng cho mình. Trữ lượng dầu của châu Âu gần như không đáng kể nếu tách Nga khỏi bản đồ năng lượng châu Âu.
Lối thoát của EU đã bao gồm cả giải pháp quân sự, không còn là tình thế mà dường như đã nằm trong kế hoạch lâu dài với mục đích rõ ràng. Cũng thấy khó hiểu một chút khi mà EU quyết định can thiệp vũ trang rất nhanh trong khi OPEC gần như lại không lên tiếng. Phải chăng sự vụ Lybia có lợi cho các nước OPEC khi giá dầu sẽ tiếp tục bị đẩy lên hay trước khi LHQ đồng ý tấn công đã có một sự thỏa hiệp ngầm nào đó.
Chính trị thế giới không còn quá xa vời. Nó ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt quá đỗi.
20/03/2011
Nói chuyện giáo dục (Phần 1: Môi trường trải nghiệm và đa trí thông minh)
Có lẽ tôi ít có dịp nói với bạn bè mình những gì tôi đang và muốn làm đối với giáo dục phổ thông. Thường thì tôi chỉ nói khi giới thiệu mô hình giáo dục của Hanoi VIP School với các đối tác, đồng nghiệp hay các bậc phụ huynh chứ khi gặp bạn bè hay nói chuyện đời thường hay công việc kinh doanh.
Thế hệ cuối 7x của tôi trở về trước, hay thậm chí từ những năm đầu của giới 8x, hầu hết đều thấy mình được hưởng một nền giáo dục có thể tốt nhưng không đầy đủ. Chúng tôi được gọi là thông minh nếu ở trường chúng tôi được điểm tốt, nghe lời thầy cô một cách thụ động. Cách giáo dục ấy khiến tôi không thể được điểm cao trong kỳ thi vào đại học nếu tôi không đi học trong lò luyện, khiến tôi chẳng biết mình có năng khiếu gì cho đến hết lớp 12, và khiến chân tay tôi trở nên gượng gạo mỗi khi phải thuyết trình điều gì đó trước một số đông người bởi đơn giản trước đó chẳng có kinh nghiệm được làm như vậy. Ba mẹ tôi còn chẳng một lần có cơ hội được xem con mình “thể hiện”, dù đó là khi đá bóng, biểu diễn hay đơn giản là được nhận phần thưởng về thành tích học tập. Gia đình – nhà trường – xã hội khi ấy chỉ là một mối quan hệ lỏng lẻo khi cha mẹ chỉ biết bắt con ngồi vào ghế học bài và nắm tình hình qua cuốn sổ liên lạc hàng tháng. Nhà trường không cập nhật nhu cầu mà xã hội đòi hỏi từ người công dân đương thời khiến cho học sinh hoàn toàn bỡ ngỡ với cuộc sống khi rời ghế phổ thông.
Một mô hình giáo dục tốt, ở đây tôi chỉ dám sử dụng chữ tốt chứ chưa khẳng định là hoàn hảo, đối với tôi là một mô hình tạo được môi trường phát triển toàn diện cho mỗi cá thể học sinh. Chưa đầy chục năm trở lại đây, thuyết đa trí thông minh được nhắc đến thường xuyên hơn ở Việt Nam, khi nhiều người nhận ra rằng giỏi toán hay giỏi văn cũng giống như giỏi đá bóng, giỏi âm nhạc đều là những loại hình trí thông minh cần được chú ý và phát triển một cách cân đối. Những nhận định về một nền giáo dục toàn diện trên khắp các diễn đàn giáo dục trong nước xuất hiện ngày một nhiều, ở tất cả các cấp độ cho thấy tính cấp thiết của một mô hình giáo dục mới. Những cuốn sách như “Trí tuệ xúc cảm” (Emotional Intelligence), “7 loại hình thông minh” (7 kinds of smart) hay “Một tư duy hoàn toàn mới” (The whole new mind) được dịch và xuất bản cũng là sự khẳng định về nhận thức mới trong giáo dục.
Tôi vẫn hay lấy ví dụ về Wolfgang Mozart với những tác phẩm âm nhạc kiệt xuất hay David Beckham với năng khiếu đá bóng tuyệt vời. Họ là những điển hình trí tuệ mà một nền giáo dục chỉ rèn luyện toán và ngôn ngữ sẽ khó lòng có được. Hãy thử nhìn xung quanh ta, trong môi trường công việc, có mấy ta ta được khen là “giỏi toán” và “viết văn rất hay”. Người ta được chú ý thường bởi khả năng giao tiếp, khả năng thuyết phục, khả năng giải quyết vấn đề hay năng lực sáng tạo vốn trải qua quá trình rèn luyện đã trở thành những kỹ năng. Không phải tự nhiên mà một cá nhân nhiều tài lẻ lại thường hay trở thành trung tâm của tập thể.
“Năng khiếu và kỹ năng, nếu được rèn luyện từ sớm thì sẽ hoàn thiện từ sớm”. Đó là triết lý khiến tôi tâm đắc với slogan của Hanoi VIP School: “Khởi đầu chuẩn mực, vững bước tương lai”. Chúng tôi không tạo ra các chuẩn mực giáo dục, chúng tôi tạo ra một môi trường giáo dục mà ở đó các em có điều kiện phát triển các thiên hướng của mình, không chỉ là toán, ngôn ngữ hay khoa học mà còn âm nhạc, mỹ thuật, thể chất cùng các kỹ năng sống và làm việc cần thiết. Cần thiết không chỉ cho các em mà cho cả xã hội. Mỗi cá nhân chỉ có thể khẳng định được mình nếu được tạo điều kiện. Mỗi học sinh chỉ có thể học cách khẳng định mình một cách tốt nhất nếu được tạo môi trường trải nghiệm. Tư duy ấy không chỉ thể hiện qua từng môn học mà còn thể hiện khi toàn bộ học sinh được khuyến khích lên sân khấu qua mỗi chương trình biểu diễn hay được khuyến khích tham gia ngày hội thể thao và đi tập huấn kỹ năng mỗi học kỳ. Chúng tôi cũng khuyến khích và tạo điều kiện để các bậc phụ huynh tham gia và chứng kiến sự thể hiện của học sinh qua từng sự kiện. Có thể thấy rõ sự có mặt của cha mẹ hay ông bà có tác dụng tích cực như thế nào trong việc khích lệ các em tự thể hiện mình.
(Còn tiếp)
Trịnh Minh Giang | 05.02.2011
Đọc “Edison mà tôi biết” của Henry Ford
Tết mới có dịp tranh thủ đọc thêm mấy cuốn của Alpha Books. “Edison mà tôi biết” là một cuốn sách mỏng, đọc nhanh nhưng đọng lại được nhiều điều. Thích nhất là những đoạn mô tả cách Edison xây dựng ý tượng thành một hệ thống trọn vẹn. Có tổng quát – có chi tiết, có đầu vào – có đầu ra, có câu hỏi – có giải pháp, có lý thuyết – có thực nghiệm và đặc biệt là luôn đặt tính hiệu quả thực tiễn lên hàng đầu.
Cách Edison sáng tạo luôn đi từ nhu cầu thực tế và hiệu quả kinh tế. Chẳng hạn như khi phát minh ra bóng đèn, Ông không chỉ nghĩ tới 1 thiết bị chiếu sáng mà còn nghĩ trước cả việc thiết bị đó phải đủ ưu việt để thay thế được loại đèn cũ, đủ rẻ để có thể thương mại hóa, và đủ dễ để có thể sản xuất hàng loạt và sinh lợi. Ông không chỉ thiết kế thiết bị mà còn thiết kế luôn cả hệ thống sản xuất, và thậm chí cả nhà máy sản xuất.
Edison không chỉ là một thiên tài phát minh, Ông còn là một doanh nhân bẩm sinh. Qua cuốn sách, Henry Ford cũng thừa nhận vai trò tiên phong của Edison khi sử dụng lợi thế kinh tế theo quy mô để sinh lợi nhuận bằng sản xuất hàng loạt. Ít có bộ óc kinh doanh nào thời đó có đủ khả năng xây dựng kế hoạch tài chính để chấp nhận lỗ trong 3 năm đầu để chỉ thu hồi vốn và sinh lợi ngay trong năm thứ 4.
Còn nhiều điều nữa để khám phá. Đây là cuốn sách không chỉ nên đọc 1 lần.
Trịnh Minh Giang | 04.02.2011
Benchmarking
Từ “Benchmarking” đã xuất hiện ở Việt Nam từ lâu nhưng chưa có một từ tiếng Việt nào tương đương để người Việt sử dụng, dù là thói quen. Điều này gây khó khăn cho giới chuyên môn và đặc biệt là trong công việc chuyển ngữ và dịch thuật.
Theo Từ điển Anh – Việt (1tudien.com):
“Benchmark” mang nghĩa “tiêu chuẩn, cơ chuẩn; điểm chuẩn, điểm mốc; kiểm chuẩn“
Theo Wiki:
“Benchmarking” is the process of comparing the business processes and performance metrics including cost, cycle time, productivity, or quality to another that is widely considered to be an industry standard benchmark or best practice.
Như vậy, xét về nghĩa, “Benchmarking” là “việc so sánh những thứ tương tự với 1 chuẩn chung, có thể hoặc không thể lượng hóa.”
Trong một số bài viết, bài dịch và sách dịch trước đây, tôi đã mạnh dạn sử dụng từ mới trong tiếng Việt là “So chuẩn” cho từ “Benchmarking“. Rất mong được mọi người bình luận và phân tích để có thể có 1 từ “Benchmarking” tiếng Việt được sử dụng rộng rãi.
Tôi cũng sẽ xin lần lượt đưa một số từ chưa có trong tiếng Việt để xin ý kiến.
25th Dec 2009
Cách truy cập Facebook nếu bị lỗi
Hiện tại Facebook đang gặp trục trặc khi truy cập tại Việt Nam, một số bạn có thể vào được thông qua proxy, tuy nhiên các proxy thi thoảng cũng tạo lỗi, làm chậm quá trình truy cập,v.v.. Có mấy cách để có thể vào được facebook không dùng proxy mà các bạn có thể thực hiện được:
- Cách thứ 1: vào http://lite.facebook.com. Đây là version mới của facebook được đưa ra vào tháng 8 năm nay và đang được cải tiến.Facebook lite nhẹ và nhanh hơn khi truy cập do đã được lược bỏ hết các quizz, apps và các ứng dụng do bên thứ 3 cung cấp.
- Cách thứ 2: vào http://hypercloak.com, sau đó gõ facebook.com và click nút Surf.
- Cách thứ 3: Nếu các bạn vẫn muốn vào facebook nguyên bản, có thể thử cách thay đổi DNS server addresses trong máy như sau: Click chuột phải vào biểu tượng online phía dưới bên phải màn hình (system tray), chọn Open Network Connections. Click chuột phải vào local area connection (nếu máy bạn dùng cắm dây mạng) hoặc wireless network connection (nếu máy bạn dùng wireless), chọn Property. Trong mục This connection uses the following items, chọn Internet protocol (TCP/ IP), sau đó chọn property. Trong cửa sổ INternet Protocol Properties vừa hiện ra, chọn Use the following DNS server addresses và điền vào: Preferred DNS server: 208.67.222.222 |Alternate DNS server: 208.67.220.220. Chọn Ok và thoát ra ngoài màn hình chính. Vào lại facebook, nếu không vào được khởi động lại máy.
(có sử dụng hướng dẫn của Bình Phan)
Mô hình phân tích SWOT
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 06.09.2004
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào. Viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ), SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay của một đề án kinh doanh. SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ…
Strengths và Weaknesses là các yếu tố nội tại của công ty còn Opportunities và Threats là các nhân tố tác động bên ngoài SWOT cho phép phân tích các yếu tố khác nhau có ảnh hưởng tương đối đến khả năng cạnh tranh của công ty. SWOT thường được kết hợp với PEST (Political, Economic, Social, Technological analysis), mô hình phân tích thị trường và đánh giá tiềm năng thông qua yếu tố bên ngoài trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội và công nghệ. Phân tích theo mô hình SWOT là việc đánh giá các dữ liệu được sắp xếp theo dạng SWOT dưới một trật tự logic giúp người đọc hiểu được cũng như có thể trình bày và thảo luận để đi đến việc ra quyết định dễ dàng hơn.
Mô hình SWOT ra đời từ những năm 60 – 70 tại Viện nghiên cứu Stanford với quá trình tìm hiểu nguyên nhân thất bại trong việc lập kế hoạch của các công ty, tài trợ bởi 500 công ty lớn nhất thời đó. Nhóm nghiên cứu bao gồm Marion Dosher, Dr Otis Benepe, Albert Humphrey, Robert Stewart, Birger Lie. Khởi đầu năm 1949 từ công ty Du Pont, chức danh giám đốc kế hoạch công ty (corporate planning manager), cho đến năm 1960, xuất hiện ở tất cả 500 công ty lớn nhất nước Mỹ. Làn sóng này tiếp tục lan rộng khắp nước Mỹ và Anh. Tuy nhiên sau đó, nhiều ý kiến cho rằng lập kế hoạch công ty dưới hình thức kế hoạch dài hạn là không ổn và là một hoạt động đầu tư tốn kém nhưng ít hiệu quả. Thực tế cho thấy, mấu chốt của vấn đề là làm cách nào để đội ngũ quản lý cùng đồng ý và đưa ra được một chương trình hành động có thể nắm bắt được.
Để giải quyết vấn đề này, Robert F Stewart và năm 1960 đã cùng nhóm nghiên cứu của mình tại SRI, Menlo Park California tìm cách tạo ra một hệ thống có thể giúp đội ngũ quản lý phát triển tốt công việc của mình. Nghiên cứu kéo dài 9 năm, phỏng vấn 1100 công ty và tổ chức với 5000 nhân viên quản lý thông qua bảng câu hỏi gồm 250 đề mục, cuối cùng dẫn tới kết luận rằng: trong các công ty, giám đốc điều hành phải là trưởng nhóm kế hoạch và các trưởng phòng chức năng dưới quyền của ông (bà) ta phải thuộc nhóm lập kế hoạch. Dr Otis Benepe đã định nghĩa Chuỗi lôgíc (Chain of Logic), sau đó trở thành hạt nhân của hệ thống được thiết kế.
- Values (giá trị)
- Appraise (đánh giá)
- Motivation (động lực)
- Search (tìm kiếm)
- Select (lựa chọn)
- Programme (lên chương trình)
- Act (hành động)
- Monitor and repeat steps 1 2 and 3 (giám sát và lặp lại các bước 1, 2 và 3).
Nhóm nghiên cứu thực hiên bước đầu tiên bằng cách thu thập đánh giá cái gì tốt, cái gì tồi trong hoạt động hiện tại và trong tương lai. Điều tốt trong hiện tại thể hiện sự thoả mãn (Satisfactory), trong tương lai thể hiện cơ hội (Opportunity), điều tồi trong hiện tại thể hiện sai lầm (Fault), trong tương lai thể hiện nguy cơ (Threat). Mô hình phân tích này lúc đó được gọi là SOFT. Sau khi mô hình được giới thiệu cho Urick vàd Orr năm 1964 tại Zurich Thuỵ Sĩ, họ đã đổi F thành W (Weak), SWOT ra đời từ đó. Phiên bản đầu tiên được thử nghiệm và trình bày năm 1966 dựa trên công trình tại Erie Technological Corp. Năm 1973, SWOT được sử dụng tại J W French Ltd. và phát triển từ đó. Đầu năm 2004, SWOT đã được hoàn thiện và thể hiện khả năng đưa ra và thống nhất các mục tiêu của tổ chức mà không cần phụ thuộc vào tư vấn hay các nguồn lực tốn kém khác.
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lô gíc dễ hiểu, dễ trình bày, dễ thảo luận và đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định. Các mẫu SWOT cho phép kích thích suy nghĩ hơn là dựa trên các phản ứng theo thói quen hoặc theo bản năng. Mẫu phân tích SWOT được trình bày dưới dạng một ma trận 2 hàng 2 cột, chia làm 4 phần: Strengths, Weaknesses, Opportunities, and Threats. Lưu ý rằng cần xác định rõ ràng chủ đề phân tích bởi SWOT đánh giá triển vọng của một vấn đề hay một chủ thể nào đó, chẳng hạn một:
- công ty (vị thế trên thị trường, độ tin cậy…),
- sản phẩm hay nhãn hiệu,
- đề xuất hay ý tưởng kinh doanh,
- phương pháp
- lựa chọn chiến lược (thâm nhập thị trường mới hay đưa ra một sản phẩm mới…),
- cơ hội sát nhập hay mua lại,
- đối tác tiềm năng,
- khả năng thay đổi nhà cung cấp,
- thuê ngoài hay gia công (outsourcing) một dịch vụ, một hoạt động hay một nguồn lực,
- cơ hội đầu tư.
Hơn nữa, SWOT có thể được áp dụng phân tích tình hình của đối thủ cạnh tranh.
Chủ đề phân tích SWOT cân được mô tả chính xác để những người khác có thể thực hiện tốt quá trình phân tích và hiểu được, hiểu đúng các đánh giá và ẩn ý của kết quả phân tích.
Mô hình SWOT thường đưa ra 4 chiến lược cơ bản:
(1) SO (Strengths – Opportunities): các chiến lược dựa trên ưu thế của công ty để tận dụng các cơ hội thị trường.
(2) WO (Weaks – Opportunities): các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua các yếu điểm của công ty để tận dụng cơ hội thị trường.
(3) ST (Strengths – Threats): các chiến lược dựa trên ưu thế của của công ty để tránh các nguy cơ của thị trường.
(4) WT (Weaks – Threats): các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa các yếu điểm của công ty để tránh các nguy cơ của thị trường.
Để thực hiện phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của một công ty, người ta thường tự đặt các câu hỏi sau:
- Strengths: Lợi thế của mình là gì? Công việc nào mình làm tốt nhất? Nguồn lực nào mình cần, có thể sử dụng? Ưu thế mà người khác thấy được ở mình là gì? Phải xem xét vấn đề từ trên phương diện bản thân và của người khác. Cần thực tế chứ không khiêm tốn. Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh. Chẳng hạn, nếu tất cả các đối thủ cạnh tranh đều cung cấp các sản phẩm chất lượng cao thì một quy trìh sản xuất với chất lượng như vậy không phải là ưu thế mà là điều cần thiết phải có để tồn tại trên thị trường.
- Weaknesses: Có thể cải thiện điều gì? Công việc nào mình làm tồi nhất? Cần tránh làm gì? Phải xem xét vấn đề trên cơ sở bên trong và cả bên ngoài. Người khác có thể nhìn thấy yếu điểm mà bản thân mình không thấy. Vì sao đối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình? Lúc này phải nhận định một cách thực tế và đối mặt với sự thật.
- Opportunities: Cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm nào mình đã biết? Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ và thị trường dù là quốc tế hay trong phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính sách của nhà nước có liên quan tới lĩnh vự hoạt động cuat công ty, từ sự thay đổi khuôn mẫu xã hội, cấu trúc dân số hay cấu trúc thời trang…, từ các sự kiện diễn ra trong khu vực. Phương thức tìm kiếm hữu ích nhất là rà soát lại các ưu thế của mình và tự đặt câu hỏi liệu các ưu thế ấy có mở ra cơ hội mới nào không. Cũng có thể làm ngược lại, rà soát các yếu điểm của mình và tự đặt câu hỏi liệu có cơ hội nào xuất hiện nếu loại bỏ được chúng.
- Threats: Những trở ngại đang phải? Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì? Những đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không? Thay đổi công nghệ có nguy cơ gì với công ty hay không? Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòng tiền? Liệu có yếu điểm nào đang đe doạ công ty? Các phân tích này thường giúp tìm ra những việc cần phải làm và biến yếu điểm thành triển vọng.
Mô hình phân tích SWOT thích hợp cho việc đánh giá hiện trạng của công ty thông qua việc phân tích tinh hình bên trong (Strengths và Weaknesses) và bên ngoài (Opportunities và Threats) công ty. SWOT thực hiện lọc thông tin theo một trật tự dễ hiểu và dễ xử lý hơn.
Các yếu tố bên trong cần phân tích có thể là:
- Văn hóa công ty.
- Hình ảnh công ty.
- Cơ cấu tổ chức.
- Nhân lực chủ chốt.
- Khả năng sử dụng các nguồn lực.
- Kinh nghiệm đã có.
- Hiệu quả hoạt động.
- Năng lực hoạt động.
- Danh tiếng thương hiệu.
- Thị phần.
- Nguồn tài chính.
- Hợp đồng chính yếu.
- Bản quyền và bí mật thương mại.
Các yếu tố bên ngoài cần phân tích có thể là:
- Khách hàng.
- Đối thủ cạnh tranh.
- Xu hướng thị trường.
- Nhà cung cấp.
- Đối tác.
- Thay đổi xã hội.
- Công nghệ mới.
- Môi truờng kinh tế.
- Môi trường chính trị và pháp luật.
Chất lượng phân tích của mô hình SWOT phụ thuộc vào chất lượng thông tin thu thập được. Thông tin cần tránh cái nhìn chủ quan từ một phía, nên tìm kiếm thông tin từ mọi phía: ban giám đốc, khách hàng, đối tác, nhà cung cấp, đối tác chiến lược, tư vấn… SWOT cũng có phần hạn chế khi sắp xếp các thông tin với xu hướng giản lược. Điều này làm cho nhiều thông tin có thể bị gò ép vào vị trí không phù hợp với bản chất vấn đề. Nhiều đề mục có thể bị trung hòa hoặc nhầm lẫn giữa hai thái cực S-W và O-T do quan điểm của nhà phân tích.
(Tổng hợp)
Tham khảo thêm:
1. http://w13.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/Kinh-nghiem/2010/03/3BA193BE/
Năng lượng Hợp hạch: một số khái niệm cơ bản
Trịnh Minh Giang
VnGG | 2005
Nhiệt của Mặt trời và các ngôi sao trong vũ trụ bắt nguồn từ năng lượng sinh ra do phản ứng tổng hợp các hạt hay còn gọi là phản ứng hợp hạch (hoặc nhiệt hạch). Có lẽ không phải ai cũng biết rằng hành tinh Mặt trời có một lò phản ứng tổng hợp hạt nhân ở lõi. Dưới áp lực lớn với nhiệt độ 16 triệu °C, các hạt nhân nguyên tử hợp nhất và giải phóng năng lượng. Các nhà khoa học tính được mỗi giây có khoảng 4 tỷ tấn vật chất được biến thành ánh sáng mặt trời. Liệu con người có thể ứng dụng phản ứng hợp hạch như đã ứng dụng phản ứng phân hạch nguyên tử hay không. Để trả lời câu hỏi ấy, các nhà khoa học cũng như các nhà hoạch định chính sách toàn cầu phải tập trung giải các bài toán phức tạp về công nghệ, hiệu quả đầu tư và khả năng phát triển bền vững đối với ứng dụng hợp hạch nguyên tử.
Chúng tôi tập trung trả lời câu hỏi về phản ứng hợp hạch, các điều kiện để phản ứng xảy ra, nhiên liệu và các thí nghiệm và ứng dụng đã và sẽ được thực hiện.
Phản ứng hợp hạch
Ngược lại với phản ứng hạt nhân (hay phân hạch nguyên tử), là quá trình bắn phá các nguyên tử, làm chúng bị tách ra thành những nguyên tử nhẹ hơn và giải phóng năng lượng, thì phản ứng hợp hạch là quá trình tổng hợp hạt nhân của các nguyên tử nhẹ dính kết với nhau để tạo thành nguyên tử nặng hơn và giải phóng lượng năng lượng. Hợp hạch nguyên tử được thử nghiệm thành công vào những năm 50 mặc dù trên lý thuyết đã được biết đến từ những năm 30 qua quá trình bức xạ tạo ra năng lượng khổng lồ của mặt trời và các vì sao khác. Các phản ứng hợp hạch cũng được biết đến như các phản ứng nhiệt hạch bởi nhiệt độ đòi hỏi lên tới hàng chục, hàng trăm triệu °C. Trong bom H (bom hydrogen hay bom khinh khí), sử dụng phản ứng hợp hạch, nhiệt độ này được tạo ra từ kíp nổ phân hạch. Phản ứng hợp hạch có hiệu suất cao hơn hẳn phản ứng phân hạch nguyên tử (?).
Năm 1952, Mỹ đã cho thử nghiệm quả bom H đầu tiên ở đảo Elugelab, Thái Bình Dương. sức công phá của quả bom H này mạnh hơn nhiều lần bom nguyên tử (bom A). Dài 8 mét, quả bom H có bí danh là Mike này có sức công phá tương đương 10,4 triệu tấn thuốc nổ TNT, bằng tổng sức mạnh của tất cả các quả bom mà quân đồng minh đã thả xuống trong Thế chiến thứ hai. Khi Mike nổ, nhiệt độ tại trung tâm của nó lớn gấp 1.000 lần nhiệt độ mặt trời. Hòn đảo Elugelab đã bị nóng chảy, chỉ còn sót lại duy nhất một miệng núi lửa ngầm nằm sâu dưới nước.
Phương trình E = mc2 biểu diễn tương quan giữa khối lượng và năng lượng. Trong phản ứng hợp hạch, một phần thế năng (mass energy) của chất phản ứng (reactant) biến đổi thành động năng của sản phẩm tạo ra. Năng lượng liên kết (binding energy) là năng lượng tương đương với chênh lệch khối lượng giữa một hạt nhân trọn vẹn và các thành phần của nó gồm các proton và neutron. Đối với năng lượng được giải thoát qua quá trình hợp hoặc phân hạch, các sản phẩm cần có năng lượng liên kết cho mỗi proton hoặc neutron cao hơn là cho chất phản ứng. Hợp hạch chỉ giải phóng năng lượng đối với các chất (nguyên tố ?) nhẹ, khác với phân hạch giải phóng năng lượng đối với các chất nặng.
Phản ứng hợp hạch xảy ra khi 2 hạt nhân tiến sát gần nhau khoảng 1.0E-15 m, làm cho lực hấp dẫn, thông qua sự tương tác mạnh còn lại giữa các hạt nhân, thắng lực đẩy điện tích giữa các proton. Hiện tượng này chỉ xảy ra khi các hạt nhân va chạm với động năng đủ mạnh. Các phản ứng hợp hạch quan trọng chỉ có đủ các hạt năng lượng ở nhiệt độ cực cao.
Ef = k*(mi-mf)*c2
Phản ứng năng lượng:
Phương trình này xuất phát từ phương trình E = mc2 của Einstein. Sự thay đổi trong năng lượng Ef của hệ thống tỷ lệ với chênh lệch khối lượng (mi-mf) giữa chất phản ứng và sản phẩm tạo ra.
. Ef = Năng lượng / mỗi phản ứng
. mi = tổng khối lượng ban đầu (các chất phản ứng)
. mf = tổng khối lượng cuối cùng (sản phẩm tạo ra)
. Hệ số chuyển đổi k = 1 trong các dơn vị SI, hoặc = 931.466 MeV/c2 trong các đơn vị tự nhiên.
Trên các vì sao với lực hấp dẫn lớn, hydrogen thông thường với hạt nhân chứa 1 proton đơn lẻ là nhiên liệu cho các phản ứng và được hợp nhất để tạo thành helium thông qua một chu kỳ phản ứng phức tạp (nucleosynthesis). Tuy nhiên, phản ứng này diễn ra quá chậm để có thể ứng dụng trên trái đất. Đồng vị deuterium và tritium của hydrogen có phản ứng hợp hạch nhanh hơn. Khí từ hỗn hợp các đồng vị hydrogen được đun nóng đến 100 triệu °C và được hãm ít nhất 0,1 giây. Hạt nhân của hai đồng vị hydro, deuterium (D) và tritium (T), va chạm và kết hợp tạo ra hạt nhân Heli (He) và bắn ra các hạt neutron (n) tự do với năng lượng cực lớn 17.6 MeV (2.8 pJ). [phương trình phản ứng: (D + T --> 4He(3.5 MeV) + n(14.1 MeV)].
Khi không có lực hấp dẫn lớn như trên Mặt trời, có thể tạo ra điều kiện hợp hạch trong tầm kiểm soát trên Trái đất bằng cách sử dụng lực từ (nam châm) để giữ nhiên liệu hợp hạch trong khi nung nóng nó bằng nhiều phương pháp.
Tốc độ phản ứng hợp hạch plasma = R * n1 * n2
n1,n2 = mật độ loại hạt phản ứng (hạt/m3)
R = hệ số tốc độ (m3/giây).
Nhân với Ef để xác định mật độ năng lượng hợp hạch.
Để tính tốc độ phản ứng, nhân hệ số tốc độ R với mật độ của 2 loại hạt phản ứng (chia đôi nếu chỉ có 1 loại để tránh tính gấp đôi khả năng phản ứng). Hệ số tốc độ phản ứng p + p => D trên mặt trời thấp hơn rất nhiều phản ứng với hỗn hợp deuterium và tritium vì phản ứng p + p diễn ra với tương tác nguyên tử yếu. Mặc dù mật độ hạt trên mặt trời là lớn, hệ số tốc độ phản ứng thấp có nghĩa là 1 proton trên mặt trời sẽ tồn tại hàng tỷ năm trước khi hợp nhất. Trong các lò phản ứng hợp hạch sử dụng từ trường, một deuteron chỉ tồn tại khoảng 100 giây.
Đối với các phản ứng hợp hạch liên tục và trong tầm kiểm soát, không thể dùng một quả bom phân hạch để kích nổ. Khó khăn của trung tâm hợp hạch được kiểm soát nằm trong việc giữ nhiên liệu hạt nhân ở nhiệt độ cực cao cần thiết cho quá trình hợp hạch trong một khoảng thời gian đủ dài để cho phép phản ứng diễn ra. Đối với phản ứng hợp hạch sử dụng đồng vị deuterium và tritium của hydro, thời gian này là 0,1 giây. Ở nhiệt độ này, nhiên liệu không còn ở trạng thái vật chất bình thường mà trở thành một lớp plasma (bị ion hóa) chứa hỗn hợp electron và nguyên tử mang điện tích (charged atoms). Cho đến nay, chưa có vật liệu nào có thể chứa được hỗn hợp cực nóng ấy. Vì vậy các thử nghiệm hầu hết dựa trên các thuộc tính điện và từ của plasma, sử dụng từ trường để tạo ra một bình chứa bằng từ (magnetic bottle). Một phương pháp khác là sử dụng chùm tia laser nhằm vào các “pellet” nhỏ bé của nhiên liệu hợp hạch.
Các phản ứng hợp hạch
Phản ứng hợp hạch mặt trời, chuỗi P-P
==================================
Chuỗi proton – proton là cơ chế hợp hạch phổ biến nhất trên mặt trời và các vì sao. 2 đôi proton hợp nhất tạo thành 2 deuteron. Mỗi deuteron hợp nhất với 1 proton tạo thành helium-3. Hai nguyên tử helium-3 lại hợp nhất tạo thành beryllium-6. Nguyên tử này không bền vững và phân hủy thành 2 proton và 1 hạt alpha (helium-4). Quá trình này cũng giải phóng 2 neutrino, 2 positron và các tia gamma. Các positron nhanh chóng bị triệt tiêu bởi các electron trong plasma, giải phóng thêm năng lượng dưới dạng các tia gamma. Các neutrino tương tác yếu đến độ chúng thoát khỏi mặt trời ngay tức khắc.
Phản ứng D – T [ D + T => He-4 + n ]
===============================
Phản ứng Diteurium – Tritium có tốc độ phản ứng cao nhất tại nhiệt độ của plasma hiện nay đã đạt được. Sản phẩm của phản ứng này gồm 1 hạt alpha (helium-4) với năng lượng 3.5 MeV, và 1 neutron với năng lượng 14.1 MeV. Neutron không mang điện tích thoát khỏi plasma và có thể được giữ lại bằng hệ thống nắp, vách và đường dẫn đặc biệt để tạo ra phản ứng [ n + Li-6 => He-4 + T ] nhằm biến neutron thu được lại thành tritium.
1 eV = 1.6022E-19 joules
Động nhiệt năng trung bình của hạt = 1 eV per 11,600 K.
Phản ứng hợp hạch được kiểm soát ứng dụng thành công sẽ tạo ra rất nhiều thuận lợi về mặt nguồn năng lượng so với phân hạch. Deuterium được tạo ra khá dễ dàng vì hydrogen có trong nước và có thể dễ dàng phân tách bởi điện phân, đơn giản hơn nhiều so với các phương pháp tách Uranium-235 phức tạp và đắt tiền.
Phản ứng hợp hạch dựa trên cơ sở hợp nhất các hạt nhân nhẹ như các đồng vị hydrogen (deuterium và tritium) để giải phóng năng lượng, giống như năng lượng của mặt trời và các vì sao.
Khó khăn nằm trong việc gắn và hợp nhất các nguyên tử hydro. Trên trái đất, việc này chỉ xảy ra với nhiệt độ trên 100 triệu°, hơn 6 lần nhiệt độ trung tâm mặt trời. Đây là một bài toán phức tạp nhưng không phải là không thể thực hiện. Ở nhiệt độ cao như vậy, nguyên tử khí bị tuột ra khỏi các electron bên ngoài, để lại hạt nhân mang điện tích dương. Đám khí này gọi là plasma; Do mang điện tích nên nó có thể chứa một từ trường bên trong, ngay cả ở nhiệt độ rất cao. Nhiệt độ đạt đến mức cần thiết sẽ tạo ra từ trường đủ mạnh và bắn ra tia hydrogen giàu neutron giúp hiện tượng hợp hạch có thể xảy ra.
Vì không thể có lực hấp dẫn lớn như trên mặt trời, người ta cần nhiệt độ tới hơn 100 triệu °C , dưới một áp lực đủ lớn để biến khối nhiên liệu deuterium và tritium thành plasma, tức là bị ion hoá. Các hạt plasma sẽ hợp nhất để tạo thành heli và các neutron tốc độ cao, đồng thời giải phóng một lượng năng lượng vô cùng lớn.
Nhiên liệu cho phản ứng hợp hạch
Hơn nữa, nguyên liệu cho các phản ứng hợp hạch là đồng vị hydrogen luôn có sẵn với khối lượng lớn. Thêm vào đó sẽ không có các sản phẩm phụ phóng xạ. Deuterium và tritium đều là đồng vị nặng của hydrogen (deuterium được rút ra từ nước, và tritium được sản xuất từ lithium, một kim loại nhẹ có ở khắp mọi nơi trên thế giới). Một kilogram nhiên liệu như vậy có thể sản ra năng lượng tương đương với 10.000 tấn nhiên liệu hoá thạch.
Deuterium
==========
General: Name: deuterium. symbol: 2H. Neutrons: 1. Protons: 1.
Nuclide Data: Natural abundance: 0.015%. Half-life: stable. Isotope mass: 2.01355321270 u. Spin: 1+
Excess energy: 13135.720 ± 0.001 keV. Binding energy: 2224.573 ± 0.002 keV. Atomic weight: 2.01355321270.
Deuterium được Harold Clayton Urey, giáo sư hóa của ĐH Columbia, phát hiện lần đầu tiên vào năm 1931. Urey đã đoạt giải Nobel 1934 với công trình này. Năm 1933, Gilbert Newton đã thành công trong việc tách mẫu đầu tiên ra khỏi nước nặng.
Deuterium, còn gọi là hydrogen nặng, là một đồng vị ổn định của hydrogen với tỷ lệ sẵn có trong tự nhiên 1/6500 so với hydro. Hạt nhân của deuterium, gọi là deuteron, chứa 1 proton và 1 neutron trong khi hạt nhân hydrogen bình thường chỉ có 1 proton.
Ký hiệu hóa học của deuterium là 2H. Tuy nhiên ký hiệu không chính thức D thường được sử dụng nhiều hơn. Deuterium xuất hiện trong tự nhiên dưới dạng khí deuterium, ký hiệu là 2H2 hoặc D2. Khi liên kết với một nguyên tử 1H điển hình, khí này được gọi là hydrogen deuteride.
Deuterium phản ứng gần như hydrogen bình thường. Tuy nhiên vì có khối lượng nguyên tử lớn hơn nên các phản ứng có deuterium tham gia có chiều hướng xảy ra chậm hơn so với các phản ứng với hydrogen thường. Hai chất đồng vị này có thể phân biệt vật lý bằng phương pháp mass spectroscopy (?).
Deuterium có thể thay thế hydrogen thường trong các phân tử nước tạo thành nước nặng (D2O). Mặc dù không gâp ngộ độc, nước nặng có thể gây ra bệnh tim.
Sự tồn tại của deuterium trên các vì sao là một dữ liệu rất quan trọng trong vũ trụ học. Hiện tượng hợp nhất các vì sao tiêu hủy deuterium và có những quá trình tự nhiên còn chưa được biết đến đã tạo ra deuterium. Đây là một trong những luận điểm làm thuyết Big Bang có sức thuyết phục hơn so với thuyết trạng thái không đổi của vũ trụ.
Nơi sản xuất deuterium nhiều nhất hiện nay là Canada, dưới dạng nước nặng điều tiết neutron cho hoạt động của lò phản ứng CANDU.
Tritium
=======
General: Name: tritium, triton. Symbol: 3H. Neutrons: 2. Protons: 1.
Nuclide Data: Natural abundance: trace. Half-life: 12.32 years. Decay products: helium-3. Isotope mass: 3.0160492 u. Spin: 1/2+. Excess energy: 14949.794 ± 0.001 keV. Binding energy: 8481.821 ± 0.004 keV.
Decay mode: Decay energy. Beta emission: 0.018590 MeV. Atomic weight: 3.0160492.
Tritium được Ernest Rutherford, Mark Oliphant và Paul Harteck tạo ra lần đầu từ deuterium năm 1934. Tuy nhiên việc phân tách thành công tritium do Luis Alvarez thực hiện, người đã cho thấy tính phóng xạ của chất này. W. F. Libby sau đó khám phá ra rằng tritium có thể được dùng để xác định niên đại.
Tritium có ký hiệu 3H nhưng thường được dùng dưới ký hiệu không chính thức T, là một đồng vị phóng xạ của hydro. Hạt nhân của tritium (đôi khi được gọi là triton) chứa 1 proton và 2 neutron so với chỉ 1 proton của hydrogen thường. Tritium tồn tại ở thể khí dưới nhiệt độ và áp suất thông thường. Tritium kết hợp với oxygen tạo thành một chất lỏng gọi là nước tritium (tritiated water?), ký hiệu T2O, hoặc nước tritium một phần THO, gần giống nước nặng.
Tritium là chất phóng xạ có chu kỳ nửa phân rã (half-life ?) ngắn, 12,32 năm. Nó phân rã thành helium-3 và giải phóng 18.6 keV năng lượng. Điện tử có động năng trung bình 6.5 keV, trong khi năng lượng còn lại bị các điện tích phản neutron (electron antineutrino) chiếm đoạt một cách chưa giải thích được. Bức xạ năng lượng thấp beta từ tritium không thể thẩm thấu qua da, vì vậy tritium chỉ nguy hiểm qua đường hô hấp hoặc tiêu hóa.
Tritium xuất hiện trong tự nhiên do các tia vũ trụ tác dụng với khí quyển. Phản ứng quan trọng nhất để tạo ra tritium tự nhiên là khi một neutron nhanh tác dụng với nitrogen trong khí quyển.
Tuy nhiên, vì có chu kỳ nửa phân rã ngắn, tritium được tạo ra theo cách này không tích lũy qua các giai đoạn địa chất và trữ lượng tự nhiên vì thế mà rất không đáng kể. Tritium nhân tạo được sản xuất trong các lò phản ứng hạt nhân qua việc làm phóng xạ / hoạt hóa neutron lithium-6.
Bên cạnh đó, tritium cũng được tạo ra từ các lò phản ứng điều tiết bằng nước nặng (heavy water-moderated reactors) khi deuterium nhận thêm 1 neutron. Phản ứng này có “cross section” cực nhỏ nên chỉ được coi là nguồn cung cấp tritium đáng kể với một dòng neutron thật lớn.
Tritium được biết đến nhiều trong nghiên cứu hợp hạch nguyên tử vì nó có phản ứng thuận lợi “cross section” và hiệu suất năng lượng cao (17.6 MeV) trong phản ứng với deuterium.
Mọi hạt nhân nguyên tử, cấu thành bởi các proton và neutron, đẩy nhau bởi điện tích dương. Tuy nhiên, khi nguyên tử đạt đến một nhiệt độ và áp lực vừa đủ (như trong tâm Mặt trời), sự vận động ngẫu nhiên của chúng có thể vượt qua lực đẩy điện tích nói trên và tiến lại gần nhau đủ cho lực hạt nhân làm chúng hợp nhất thành một nguyên tử nặng hơn. Vì tritium có cùng điện tích với hydrogen, nó cũng có một lực đẩy điện tích tương tự. Tuy nhiên, do khối lượng nặng hơn hydrogen, nó ít bị tác dụng bởi lực đẩy này và vì thế dễ hợp nhất với các nguyên tử khác hơn. Tương tự đối với deuterium. Đây cũng là lý do vì sao nhiều ngôi sao không thể đốt cháy hydrogen mà thay vào đó là deuterium.
Trữ lượng tritium trên thế giới, trước khi các vụ thử nghiệm vũ khí hạt nhân (atmospheric nuclear weapons tests) bị phản đối, ước tính khoảng c. 80 megacuries (MCi).
Giống như hydrogen, rất khó chứa tritium vì nó có thể thấm qua cao su, nhựa hay thậm chí một số loại thép. Ngoài ra cũng cần chú ý nếu tritium được sử dụng với khối lượng lớn, nhất là trong các lò phản ứng hợp hạch, nó có thể gây ra ô nhiễm phóng xạ.
Tokamak
Phản ứng nhiệt hạch dựa trên cơ sở hợp nhất các hạt nhân nhẹ như các đồng vị hydro (deuterium v à tritium) để giải phóng năng lượng, giống như năng lượng của mặt trời và các vì sao. Khí từ hỗn hợp các đồng vị hydro được đun nóng đến 100 triệu °C và được hãm ít nhất 1 giây. Hạt nhân của hai đồng vị hydro, deuterium (D) và tritium (T), va chạm và kết hợp tạo ra hạt nhân Heli (He) và bắn ra các hạt neutron (n) tự do với năng lượng cực lớn 17.6 MeV (2.8 pJ). [phương trình phản ứng: (D + T --> 4He(3.5 MeV) + n(14.1 MeV)]. Thu và biến đổi năng lượng từ các hạt neutron này thành nhiệt sẽ tạo ra nguồn năng lượng điện dồi dào trong tương lai.
Khó khăn nằm trong việc gắn và hợp nhất các nguyên tử hydro. Trên trái đất, việc này chỉ xảy ra với nhiệt độ trên 100 triệu°, hơn 6 lần nhiệt độ trung tâm mặt trời. Đây là một bài toán phức tạp nhưng không phải là không thể thực hiện. Ở nhiệt độ cao như vậy, nguyên tử khí bị tuột ra khỏi các electron bên ngoài, để lại hạt nhân mang điện tích dương. Đám khí này gọi là plasma; Do mang điện tích nên nó có thể chứa một từ trường bên trong, ngay cả ở nhiệt độ rất cao. Nhiệt độ đạt đến mức cần thiết sẽ tạo ra từ trường đủ mạnh và bắn ra tia hydro giàu neutron giúp hiện tượng nhiệt hạch có thể xảy ra.
Tokamak là một loại máy sản sinh ra từ trường hình xuyến (toroidal) để chứa plasma. Mặc dù có một số thiết bị chứa plasma khác, tokamak vẫn được coi là ứng cử viên số một trong việc tạo năng lượng hợp hạch. Cái tên tokamak được chuyển ngữ từ thuật ngữ tiếng Nga “Токамак” xuất phát từ cụm từ “тороидальная камера в магнитных катушках” – bình chứa từ hình xuyến (toroidal chamber in magnetic coils), một phát minh của Igor Yevgenyevich Tamm và Andrei Sakharov những năm 1950.
Thiết bị gây ra phản ứng tạo năng lượng của mặt trời và năng lượng được tạo ra lớn hơn năng lượng tiêu thụ. Vướng mắc là các cỗ máy với tên gọi tokamak này sử dụng tới hạn hiện nay của vật lý nguyên tử và cực kỳ đắt tiền. Sẽ còn cần vài thập kỷ cho các thí nghiệm tốn kém khác trước khi thiết bị phản ứng nhiệt hạch có thể tạo ra điện thương phẩm.
Đặc trưng của tokamak là tính đối xứng quay (hay đối xứng phương vị) và việc sử dụng dòng plasma để tạo ra cấu tạo xoắn ốc của từ trường cần thiết cho cân bằng ổn định (the use of the plasma current to generate the helical component of the magnetic field necessary for stable equilibrium). Không giống với stellarator, một thiết bị chứa từ hình xuyến (toroidal magnetic confinement) khác có hệ đối xứng quay riêng rẻ / rời rạc (discrete) trong đó tất cả từ trường được tạo ra từ cuộn dây bên ngoài với một dòng điện cực nhỏ / không đáng kể (negligible) chạy qua plasma.
Hình dạng đặc biệt của lò phản ứng hợp hạch nhằm tạo ra từ trường càng đều càng tốt. Hình xuyến có tính chất hình học mà các hình dạng khác, như hình cầu chẳng hạn, không có. Vấn đề ở đây liên quan tới định lý “hairy ball” (?). Tưởng tượng một hình cầu có tóc mọc xung quanh, tương tự như các đường từ trường / đường sức từ (magnetic field lines) trong lò phản ứng hợp hạch. Người ta thấy rằng không thể chải tóc trên quả cầu mà không làm cho tóc dựng đứng lên / mắc vào nhau (stick up). Hiện tượng này (A strand of hair that is standing on end) tạo ra sự bất ổn trong lò phản ứng. Một hình xuyến “có tóc” giải quyết được vấn đề này, giúp cho việc điều chỉnh từ trường tránh các trường hợp sai quy luật, cho phép từ trường chứa plasma tốt hơn.
Một hệ quả lý thú của định lý “hairy ball”: nếu coi trái đất có hình cầu, mỗi điểm trên bề mặt trái đất sẽ có một hướng gió riêng. Từ đó cho thấy sẽ luôn có 1 nơi mà không khí ở đó đứng yên.
Trong vật lý, từ trường là một thực thể được sản sinh do các vật mang điện (các dòng điện) di động sử dụng lực trên các vật mang điện di động khác. Sự xoắn theo cơ chế lượng tử (quantum-mechanical spin) của một hạt tạo ra từ trường và bị từ trường này tác động như thể nó là một dòng điện (acted on by them as though it were a current). Điều này giải thích các từ trường được tạo ra từ sắt từ vĩnh cửu / nam châm vĩnh cửu (permanent ferromagnets). Từ trường là một trường vector (vector field): nó kết hợp với mọi điểm trong không gian tạo thành 1 vector có thể thay đổi theo thời gian. Hướng của trường vector này là hướng cân bằng của kim la bàn đặt trong trường.
Các thí nghiệm về hợp hạch nguyên tử
Joint European Torus
===================
JET, the Joint European Torus, is a tokamak and is the largest nuclear fusion reactor yet built.
Máy tokamak JET (Joint European Torus) là lò phản ứng nguyên tử lớn nhất đã được xây dựng từ trước đến nay. JET được khởi công từ năm 1978 trên nền một sân bay cũ gần Culham, Oxfordshire, Anh quốc. Các thí nghiệm đầu tiên được thực hiện vào năm 1983.
JET được trang bị thiết bị điều khiển từ xa nhằm tránh phóng xạ sinh ra từ nguyên liệu hỗn hợp Deuterium-Tritium, nguyên liệu được đề xuất sử dụng cho thế hệ nhà máy năng lượng hợp hạch đầu tiên. Trong khi ITER đang được xây dựng, JET vẫn được coi là lò phản ứng hợp hạch lớn duy nhất đang sử dụng nguyên liệu hỗn hợp này.
Năm 1997, JET đã sinh ra mức năng lượng hợp hạch tới 16MW, bằng kỷ lục mới đây của năm 2004. Một thí nghiệm tương tự thu được giá trị Q=~0.7 với Q là tỷ lệ giữa năng lượng hợp hạch trên năng lượng sử dụng đầu vào. Phản ứng hợp hạch nguyên tử tự phát (self-sustaining) cần giá trị Q>1.
Cuối năm 1999, Cơ quan năng lượng nguyên tử Anh quốc UKAEA (United Kingdom Atomic Energy Authority) thay mặt cho các đối tác châu Âu đảm nhận trách nhiệm về JET. (The experimental programme is as of 2000 being co-ordinated by the European Fusion Development Agreement (EFDA) Close Support Unit).
JET hoạt động cao độ nhất là vào năm 2006 với các thí nghiệm sử dụng lượng nhỏ tritium. Từ 2004 đến nay, JET gần như đóng cửa cho một loạt nâng cấp nhằm tăng nhiệt năng có thể tạo ra lên tới 40 MW, tạo điều kiện cho các nghiên cứu liên quan đến việc phát triển ITER. JET-EP đời mới (Enhanced Performance) sẽ có khả năng tăng kỷ lục cho năng lượng hợp hạch.
JT-60
=====
JT-60 (Japan Torus – 60) là công trình mũi nhọn của chương trình hợp hạch từ tính (magnetic fusion program) Nhật Bản, do Viên Nghiên cứu năng lượng nguyên tử Nhật Bản JAERI (Japan Atomic Energy Research Institute) thực hiện trong khu nghiên cứu hợp hạch Naka tại Ibaraki. JT-60 đang giữ kỷ lục về nhiệt độ của ion lên tới 520 MK. JT-60 là một cỗ máy tokamak đặc thù, giống như JET.
Theo Naoyuki Miya, giám đốc JT-60 của khu nghiên cứu năng lượng nhiệt hạch Naka, thiết bị trị giá 2 tỷ usd của họ ở 520 triệu °C đã tạo ra năng lượng nhiều hơn 25% mức tiêu thụ mối phút. Bước tiến vượt bậc này đã thuyết phục được những người còn hoài nghi về tính khả thi của năng lượng nhiệt hạch. Những người ủng hộ đang đưa sự tăng liên tục của giá dầu, môi trường ngày càng ô nhiễm, nguy cơ leo thang hạt nhân làm luận cứ thúc đẩy việc thiết kế một hệ thống Iter lớn hơn, mạnh hơn ngay lập tức để đặt nền móng sự phát triển toàn diện các nhà máy năng lượng nhiệt hạch.
ITER
=====
ITER (International Thermonuclear Experimental Reactor) là một chương trình thí nghiệm tokamak quốc tế dự định đặt tại Pháp. Lò phản ứng ITER được thiết kế để chứng tỏ tính khả thi xét trên phương diện khoa học cũng như kỹ thuật của một lò phản ứng năng lượng hợp hạch hoàn chỉnh, dựa trên các nghiên cứu đã được thực hiện với các thiết bị TFTR, JET, JT-60, và T-15, nhưng với quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Chương trình được dự tính kéo dài trong 30 năm, gồm 10 năm xây dựng và 20 năm hoạt động, với chi phí ước tính khoảng 10 tỷ euro. Sau nhiều năm cân nhắc, vào tháng 5/2005, ITER được xác định xây dựng tại Cadarache, France. Cái tên ITER theo tiếng Latin có nghĩa là “con đường”, thể hiện ý nghĩa của công trình như một con đường khai thác hợp hạch nguyên tử như một nguồn năng lượng ổn định.
Nếu được xây dựng, Iter sẽ là một kỳ tích kỹ thuật đầy ấn tượng. Với quy mô lớn hơn rất nhiều các thiết bị tokamak hiện có, Iter sẽ là cỗ máy đầu tiên được thiết kế nhằm tạo ra năng lượng nhiệt hạch. Ở mức tối đa, nó có thể ngốn tới 110MW năng lượng từ lưới điện, tức là khoảng 10% sản lượng của một nhà máy điện cỡ vừa. Ống chân không nằm ở giữa thiết bị có đường kính khoảng 25m, cao 11m và nặng gần 9 ngàn tấn. Để hoạt động, 31 viên nam châm siêu dẫn, nặng 750 tấn mỗi viên, sẽ được làm lạnh tới -269° (dưới 0) chỉ trên 4° so với 0 tuyệt đối. Trong khi đó, cách đó chỉ 2m, plasma sẽ được đốt ở 100triệu°. Việc duy trì nhiệt độ sẽ là một thách thức lớn, theo Ken Tomabechi, trưởng nhóm thiết kế Iter. Tất cả các khâu đều rất tốn kém về tiền bạc và thời gian. Iter sẽ được xây dựng trong 10 năm với chi phí khoảng 5 tỷ usd. Chí phí hoạt động cho dự án 20 năm này cũng sẽ lên tới khoảng chừng ấy.
START
======
START (Small Tight Aspect Ratio Tokamak) là thí nghiệm hợp hạch nguyên tử sử dụng máy tokamak bắt đầu từ năm 1991 tại Trung tâm khoa học Culham (Culham Science Centre), Anh quốc và kết thúc năm 1998 trước khi được tháo gỡ và chuyển tới Phòng thí nghiệm ENEA tại Frascati, Italy. Nhóm nghiên cứu START sau đó thực hiện thí nghiệm hợp hạch MAST cho đến nay.
START giữ kỷ lục cao nhất về áp lực plasma, thu được bằng cách sử dụng súng bắn tia trung tính (neutral beam injector) làm nóng plasma. START được thiết kế với chi phí thấp, hầu như lắp ráp từ các linh kiện mà các thành viên của nhóm nghiên cứu đã có sẵn. Máy tokamak được thay đổi từ hình xuyên thành hình gần như hình cầu nhằm giảm chi phí so với thiết kế thông thường, trong khi từ trường để duy trì plasma ổn định là hệ số của … (factor of 10 less).
MAST
=====
MAST (Mega Ampere Spherical Tokamak) là thí nghiệm hợp hạch nguyên tử thực hiện tại Trung tâm khoa học Culham, Anh quốc, từ năm 1999, tiếp theo các thành công của thí nghiệm START (1991 – 1998). MAST cũng sử dụng thiết kế tokamak hình cầu cải tiến như START. Hoạt động của MAST đã vượt quá cả những dự đoán lạc quan nhất, chứng thực cho các kết quả đã đạt được trước đó của START với thí nghiệm lớn hơn và cso mục đích cụ thể.
Được thực hiện dưới sự chỉ đạo của EURATOM/UKAEA, MAST, mất 2 năm thiết kế và 2 năm xây dựng, gồm một súng bắn tia trung tính (neutral beam injector) và sử dụng kỹ thuật nén hợp nhất (merging compression technique) giống START thay cho kỹ thuật cảm ứng trực tiếp thông thường (conventional direct induction).
Kỹ thuật nén hợp nhất (merging compression) cho phép tiết kiệm central solenoid flux, có thể được dùng để tăng dòng plasma và/hoặc duy trì dòng điện cần thiết (required current flat-top). Mục tiêu của MAST là hiểu rõ cơ chế của tokamak, cải thiện thiết kế cho ITER hay hiệu quả của hình dạng plasma.
Princeton Plasma Physics Laboratory (PPPL)
=======================================
Phòng thí nghiệm vật lý Plasma Princeton PPPL (Princeton Plasma Physics Laboratory) là phòng thí nghiệm thuộc Cục năng lượng quốc gia Mỹ (United States Department of Energy national) nghiên cứu về vật lý plasma và khoa học hợp hạch năng lượng đặt phía bắc khu Đại học Princeton, New Jersey. Nhiệm vụ chính của PPPL là phát triển các hiểu biết khoa học và đổi mới (innovation) then chốt có thể dẫn tới một nguồn năng lượng hợp hạch khai thác được.
Nghiên cứu về hợp hạch tại Priceton bắt đầu từ năm 1951 với Dự án Matterhorn. Giáo sư vũ trụ học Lyman Spitzer Jr đã có nhiều năm nghiên cứu các chất khí loãng cực nóng trong không gian giữa các vì sao (interstellar).
Trong 3 thập kỷ qua, PPPL luôn đi đầu trong các thí nghiệm với tokamak, đặc biệt là với TFTR (Tokamak Fusion Test Reactor). TFTR hoạt động tại PPPL từ 1982 đến 1997, là thiết bị đầu tiên sử dụng hỗn hợp deuterium-tritium với tỷ lệ 1:1, thu được năng lượng 10,7 MW, vượt quá mức dự đoán ban đầu.
Các nhà nghiên cứu của PPPL hiện nay đang tập trung vào một thiết bị hợp hạch cấp độ cao hơn với thí nghiệm NSTE (National Spherical Torus Experiment) và đang phát triển các công thức mới trên cơ sở hợp tác với các viện nghiên cứu khác trong và ngoài nước. Rất nhiều kiến thức cả lý thuyết và thực nghiệm đã được áp dụng trong nghiên cứu hợp hạch ví dụ từ khoa học vật liệu, từ vật lý mặt trời, từ hóa học và từ sản xuất.
(Tổng hợp)
Vài nét về Công nghệ Nano (Nanotechnology)
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 26.11.2004
Ngày nay các cluster công nghệ cao hàng đầu trên thế giới đang tập trung vào Info – công nghệ thông tin, Bio – công nghệ sinh học và Nano – công nghệ siêu nhỏ. Vậy Nano là gì? và vì sao công nghệ Nano có thể sánh ngang tầm với công nghệ thông tin và công nghệ sinh học?
Công nghệ Nano (Nanotechnology), hay còn gọi là sản xuất phân tử, là một ngành khoa học kỹ thuật liên quan tới thiết kế và sản xuất các mạch điện tử và thiết bị cực nhỏ ở cấp độ phân tử của vật thể. Viện công nghệ Nano Anh quốc (Institute of Nanotechnology) định nghĩa Nano là “một ngành khoa học và công nghệ mà ở đó các kích thước từ 0,1nm (Nanomét) tới 100nm đóng vai trò chủ đạo”. Nanomét là đơn vị đo lường vũ trụ bằng 1 phần tỷ mét. Công nghệ Nano thường đi đôi với các hệ thống vi cơ điện MEMS (micro-electromechanical systems). Các hệ thống này thường sử dụng công nghệ Nano nhưng có thể bao gồm cả các công nghệ khác ở cấp độ cao hơn phân tử.
Chương trình Nano quốc gia của Mỹ NNI định nghĩa công nghệ Nano phải bao hàm:
- Nghiên cứu và phát triển công nghệ ở cấp độ phân tử hoặc vi phân, với kích thước khoảng 1 – 100 nm.
- Tạo ra và sử dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống có các đặc tính và chức năng mới do kích thước cực nhỏ.
- Có khả năng kiểm soát và thao tác ở cấp độ nguyên tử.
Hiện nay, nghiên cứu ADN có kích thước 2,5 Nanomét trong khi hồng cầu có kích thước khoảng 2,5 micromét. Chẳng hạn Nanotube, nguồn điện tích xạ trường phong phú, một dạng mới của carbon, được Sumio Iijima tìm ra năm 1991 và được công bố năm 1995.
Việc đưa các nghiên cứu về công nghệ Nano vào sản xuất hàng loạt vẫn còn nhiều hạn chế, tuy nhiên một số sản phẩm đã nhanh chóng tiếp cận thị trường và đã có những ảnh hưởng nhất định. Năm 2000, tức là 9 năm sau, đèn jumbotron được tung ra thị trường, một loại đèn trên cơ sở Nanotube sử dụng các hạt điện tích xạ trường để bắn phá phốt pho. Đến nay, đèn được sử dụng ở nhiều sân vận động. Có thể thấy tốc độ phát triển của công nghệ này nhanh hơn trước rất nhiều khi biết rằng 23 năm là khoảng thời gian từ khi các thuộc tính bán dẫn của germanium được mô hình hóa cho đến khi sản phẩm đầu tiên, radio bán dẫn, ra đời.
Việc khám phá ra một dạng năng lượng mới ở cấp độ Nano, C60, hay còn gọi là buckyball đã đem lại cho Robert F. Curl Jr., Sir Harold W. Kroto, và Richard E. Smalley giải Nobel Hóa học 1996, mở đầu cho làn sóng nghiên cứu các đặc tính mới của C60 cũng như các vật liệu ở cấp độ Nano khác. Khoa học Nano được tạo thuận lợi bởi những tiến bộ về các thiết bị hiển vi. Giải Nobel 1986 về Vật lý đã được trao cho 3 nhà phát minh trong lĩnh vực này là Ernst Ruska, Gerd Binnig và Heinrich Rohrer. kính hiển vi quét sử dụng hiệu ứng đường ngầm STM (scanning tunneling microscope) là một trong những công cụ cho phép các nhà khoa học không những có thể quan sát mà còn thao tác được trên các hạt, các nguyên tử và tiểu phân tử ở cấp độ Nano. Khi công nghệ Nano vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm thì các hạt kích thước Nano đã được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp. Vật liệu kích thước Nano được sử dụng trong các ngành điện tử, sinh dược, mỹ phẩm, năng lượng, ứng dụng vật liệu và xúc tác… Các sản phẩm đem lại nhiều lợi nhuận nhất từ các hạt Nano là đánh bóng cơ hóa, băng từ, xúc tác tự động, sợi quang học… Các vật liệu Nano, có thể ở dạng bột hoặc dạng lỏng, thường được kết hợp với các vật liệu khác để tăng cường thêm các chức năng cho sản phẩm.
Các ứng dụng trong ngành điện tử bao gồm: ổ cứng máy tính, bộ nhớ từ, cảm ứng, máy dò quặng và la bàn. Như đã biết, chỉ có thể gắn các thành phần vào một chip bán dẫn ở một giới hạn nhất định. Thông thường, các vi mạch được khắc lên chíp bằng cách dùng axít bóc đi một diện tích nhỏ. Tuy nhiên, trên lý thuyết, có thể tạo ra chíp từ từng nguyên tử, giúp cho thiết bị có kích thước nhỏ hơn rất nhiều so với công nghệ khắc axít. Phương pháp này sẽ không tạo ra bất kỳ một nguyên tử nào không cần thiết. Dây dẫn điện công nghệ Nano (Nanowire) có thể chỉ dày 1 nguyên tử. Một cổng logic chỉ cần vài nguyên tử. Một bit dữ liệu có thể được biểu hiện bằng sự có mặt hay không có mặt của một điện tích (electron) đơn lẻ.
Công nghệ Nano hứa hẹn tạo ra thế hệ máy tính và thiết bị viễn thông mạnh hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, đáng quan tâm nhất và cũng chứa đựng nhiều nguy cơ nhất là những ứng dụng trong nghiên cứu dược. Các Nanorobot (robot cực nhỏ) có thể được sử dụng như những kháng thể được lập trình. Khi các vi khuẩn và vi rút gây bệnh liên tục biến đổi để lẩn tránh thuốc, các Nanorobot sẽ được lập trình lại để lựa tìm và tiêu diệt chúng. Một loại Nanorobot khác có khả năng tách rời và tiêu diệt tế bào ung thư.
Nanorobot là những máy cực nhỏ được thiết kế nhằm thực hiện những nhiệm vụ chuyên biệt hoặc lặp đi lặp lại với độ chính xác gần như tuyệt đối. Nanorobot cũng giống như các dạng robot khác được chia làm 2 loại: (1) robot tự động (autonomous) mang một máy tính Nano điều khiển nó và cho phép nó hoạt động độc lập; (2) robot bọ (insect) là những robot đồng nhất thuộc một nhóm robot được kiểm soát bởi một máy tính trung tâm.
Nanorobot có lợi ích đặc biệt trong ngành y. Một nhóm robot bọ có khả năng tự bắt chước (self-replication) có thể hoạt động như một loại vắc xin phòng chống bệnh tật. Các robot này thậm chí còn có tác dụng như những kháng thể hay tác nhân diệt vi rút trong người bệnh bị suy giảm miễn dịch hay đối với các loại bệnh không biểu hiện trước các công cụ kiểm tra truyền thống. Nanorobot có thể tìm kiếm và tiêu diệt các loại vi khuẩn, vi rút. Nanorobot còn có khả năng ứng dụng trong quy trình lắp ráp các hệ thống tí hon và vô cùng phức tạp. Chúng có thể hoạt động ở cấp độ nguyên tử để tạo ra các thiết bị hay các vi mạch.
Ưu thế quan trọng của Nanorobot là đòi hỏi rất ít năng lượng khi hoạt động. Bên cạnh đó, Nanorobot có thể duy trì hoạt động hàng chục năm hay thậm chí hàng thế kỷ. Các hệ thống ở kích thước Nano còn hoạt động nhanh hơn rất nhiều các hệ thống lớn hơn nhờ sự dịch chuyển nhỏ cho phép các hiện tượng cơ và điện xảy ra trong thời gian ngắn hơn với tốc độ tuyệt đối.
Lưu trữ sử dụng công nghệ Nano là giải pháp tăng triệt để khả năng lưu trữ thông qua nhiều công nghệ và từ đó thay thế các phương tiện lưu trữ hiện nay bằng các thiết bị và phương tiện có mật độ cực cao. Đang trong giai đoạn phát triển, ứng dụng công nghệ Nano này sử dụng nhiều phương thức, bao gồm cả công nghệ quang học. Dự án Millipede của IBM đã tạo ra một mẫu thiết bị lưu trữ Nano có thể viết và đọc dữ liệu giống như một chuỗi các dấu viết tay trên một tấm phim nhựa.
Dư án nghiên cứu “Millipede” của IBM năm 2002 đã chứng minh khả năng lưu trữ 25 triệu trang sách (25 đĩa DVD) vào trong một diện tích chỉ nhỏ bằng con tem. Thay cho việc sử dụng các thiết bị từ hay điện tử để lưu trữ dữ liệu, Millipede sử dụng hàng ngàn mũi kim có kích thước Nano để dập các dấu lõm biểu hiện cho các bit dữ liệu lên một tấm phim nhựa mỏng. Công nghệ này có thể coi là sự thu nhỏ ở cấp độ Nano của công nghệ thẻ dập (punch card) đã được phát minh từ hơn 110 năm trước. Tuy nhiên Millipede có hai điểm khác biệt: (1) cho phép ghi lại (re-writable); (2) có thể lưu trữ hơn 3 triệu bit dữ liệu trong một diện tích chỉ bằng 1 lỗ trên thẻ dập truyền thống.
Hơn thế nữa, các nhà khoa học của IBM tin rằng có thể tạo ra khả năng lưu trữ lớn hơn nữa. Gerd Binnig, giải Nobel vật lý 1986, một trong những người điều hành chương trình Millipede, cho biết: “Vì mũi kim kích thước Nano có thể tác động tới từng nguyên tử nên chúng tôi mong đợi những thành tựu mới vượt qua mức giới hạn hiện nay hàng ngàn lần”.
Các dự án Nano hiện đang là mục tiêu của các quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital fund). Harris & Harris Group, Inc. quỹ đầu tư chủ yếu vào công nghệ Nano đang nắm trong tay cổ phần của 16 công ty công nghệ siêu nhỏ, trong đó có 14 công ty về công nghệ Nano (4 về vật liệu, 6 về điện tử, 3 về ảnh, 2 về sinh học và 1 về thiết bị). Quỹ đang tìm kiếm các dự án tích hợp giữa nhiều công nghệ Nano. Silicon Valley Nano Ventures, quỹ đầu tư mạo hiểm mang tên Thung lũng Silicon, cũng đầu tư vào 6 công ty OptivaInc, Nanospire, Nanostellar, Tailored Materials Corporation và Integrated Nanosystems dưới hình thức cổ đông thiểu số (0,25 – 3 triệu đôla Mỹ). Định hướng đầu tư tương lai của Quỹ là các công cụ, các phần mềm và vật liệu cần thiết cho các ứng dụng phát triển công nghệ Nano, các kênh phân phối và tạo lập thị trường. Đang trong quá trình tích lũy vốn, quỹ đầu tư Alameda Capital nhắm vào thị trường truyền thống về công nghệ thông tin, khoa học đời sống và năng lượng với sự hội tụ đa công nghệ bao gồm cả các loại vật liệu tiên tiến sử dụng công nghệ Nano.
Theo Nanotechnology Now và một số nguồn khác.
(Tổng hợp)
IT Offshoring – Sử dụng nguồn lực bên ngoài trong công nghệ thông tin
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 10.09.2004
Offshoring hiểu đơn giản là hình thức sử dụng nguồn lực từ nước khác. Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Offshoring thường là các hợp đồng gia công phần mềm (hay phát triển phần mềm). Việc giao tiếp thường được thực hiện thông qua đường kết nối dữ liệu tốc độ cao, cho phép các kỹ sư và nhà quản lý giao tiếp trên cơ sở thời gian thực. Khách hàng có thể giám sát từ xa quá trình và các mốc phát triển dự án trên cơ sở từng phút, đảm bảo chất lượng và quy trình.
Theo định nghĩa của OffshoreXperts, Outsourcing là việc quản lý và/hoặc thực hiện toàn bộ một chức năng kinh doanh được giao cho một nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài. Dịch vụ có thể được cung cấp bên trong hay bên ngoài công ty khách hàng; có thể thuộc nước sở tại hoặc ở nước ngoài. IT Outsourcing là việc thuê dịch vụ công nghệ thông tin. Outsourcing phổ biến trong các công ty có nhu cầu sử dụng công nghệ thông tin tiên tiến. IT outsourcing cũng có nghĩa là việc thuê người bên ngoài thực hiện mảng công nghệ thông tin của công ty mình. Một đối tác như vậy sẽ cung cấp nhân lực làm việc sát cánh với nhân viên của công ty, có khả năng nắm bắt các vấn đề của riêng công ty và từ đó giúp công ty chuyển giao và thực hiện các giải pháp thích hợp.
Cần phân biệt Offshoring với việc sử dụng nguồn lực bên ngoài trong quy trình kinh doanh BPO (business process outsourcing) thường bao gồm việc di chuyển dịch vụ tới nhà cung cấp bên ngoài chẳng hạn các tổng đài điện thoại (call center), kế toán tài chính, nguồn nhân lực… Offshoring áp dụng trong các hoạt động sản xuất, công nghệ thông tin và hoạt động văn phòng, tận dụng lao động rẻ ở vùng, quốc gia khác. Người ta cũng thường cho rằng outsourcing bao hàm offshoring. Trên thực tế quy trình cần outsourcing được giao hẳn cho nhà cung cấp bên ngoài còn quy trình cần offshoring có thể được giao hẳn hoặc vẫn được thực hiện tại công ty thuê dịch vụ. Thuật ngữ offshoring cũng được sử dụng với những công ty tự xây dựng các trung tâm dịch vụ ở các địa điểm xa có chi phí thấp hơn là xây dựng tại chỗ.
Gia công phần mềm cùng với chiến lược sử dụng nguồn lực IT từ bên ngoài bắt đầu phát triển từ giữa thập kỷ 90, khi mà vấn đề Y2K nổi lên đe doạ hệ thống thông tin của các tập đoàn lớn. Hàng loạt công ty dịch vụ đã ra đời phục vụ cho các quy trình kinh danh hoặc cung cấp các kỹ năng đặc biệt. Ngày nay, ở Mỹ, người ta ước tính 80% công ty nghĩ tới việc sử dụng nguồn lực bên ngoài và hơn 40% đã và chuẩn bị sử dụng nguồn lực IT từ dịch vụ bên ngoài thông qua mô hình chuyển giao toàn cầu.
Gia công, phát triển phầm mềm từ xa, hay nói rộng hơn là gia công, phát triển sản phẩm từ xa rõ ràng đang là cứu cánh trong điều kiện thị trường thị trường hiện với công nghệ, kỹ năng và phương thức biên chuyển hàng giờ. Chiến lược sử dụng nguồn lực bên ngoài trước hết tạo ra đòn bẩy cho nguồn lực công ty, truyền tư tưởng, kỹ năng và kinh nghiệm mới đồng thời rút ngắn thời gian tiếp cận thị trường.
Các lợi thế chiến lược của việc sử dụng nguồn lực bên ngoài bao gồm:
- Tập trung cho trọng tâm kinh doanh chính (business focus). Outsourcing giúp công ty khách hàng tập trung vào các hoạt động sản xuất kinh doanh chính trong khi các hoạt động phụ được giao cho chuyên gia bên ngoài đảm nhận. Đối với nhiều công ty, lý do chính khiến họ sử dụng nguồn lực bên ngoài là vì các hoạt động phụ đã thu hút nhiều nguồn lực cùng với sự tập trung quá mức của đội ngũ quản lý.
- Đạt được năng lực (capacities) ngang tầm quốc tế. Với bản chất chuyên môn hóa, các nhà cung cấp nguồn lực bên ngoài đã đáp ứng nhu cầu của khách hàng bằng những nguồn lực ngang tầm thế giới. Làm việc với các tổ chức có năng lực như vậy giúp cho họ tiếp cận với công nghệ, thiết bị và kỹ thuật mới; với các phương thức làm việc, thủ tục và tài liệu có hệ thống; với lợi thế cạnh tranh thông qua các kỹ năng phát triển.
- Tăng lợi ích của việc tái cơ cấu (reengineering). Outsourcing thường là một sản phẩm phụ của một công cụ quản lý mạnh mẽ khác: tái cơ cấu quy trình kinh doanh. Nó cho phép tổ chức nhận biết được ngay lợi ích của tái cơ cấu thông qua một tổ chức khác đã thực hiện tái cơ cấu theo tiêu chuẩn / quy trình toàn cầu.
- Chia sẻ rủi ro (risks). Việc đầu tư vào công nghệ thông tin chứa đựng rất nhiều rủi ro cho công ty. Khi thực hiện outsourcing, công ty trở nên linh hoạt, năng động hơn, dễ dàng thay đổi cho phù hợp với thời cơ mới.
- Hướng nguồn lực hệ thông tin tới các hoạt động mang tính chiến lược hơn (redirecting). Bất kỳ tổ chức nào cũng chỉ tiếp cận được một nguồn lực có giới hạn. Outsourcing cho phép hướng các nguồn lực từ các hoạt động không phải trọng tâm tới các hoạt động đem lại lợi ích trong việc phục vụ khách hàng.
Bên cạnh đó, thực hiện outsourcing cũng đem lại lợi thế trên phương diện quản lý:
- Các ứng dụng một lần: các ứng dụng cần phát triển và điều chỉnh vào một thời điểm nhất định đòi hỏi một nguồn nhân lực rất lớn tại thời điểm đó. Điều này khiến tình hình công ty biến động và cũng tạo ra chi phí lớn. Outsourcing là giải pháp hợp lý nhất,. Có thể lấy ví dụ từ Y2K, chuyển đổi đồng euro, chuyển đổi plateform…
- Giảm hoặc kiểm soát được chi phí hoạt động: đây là một ưu thế lớn của outsourcing. Tiếp cận cơ cấu chi phí thấp hơn từ nhà cung cấp bên ngoài là lợi ích lớn nhất trong ngắn hạn của việc sử dụng nguồn lực bên ngoài. Theo một cuộc điều tra gần đây, các công ty cho biết tiết kiệm được 9% chi phí thông qua outsourcing.
- Tránh tình trạng đọng vốn: oursourcing giảm nhu cầu đầu tư vốn vào các chức năng hoạt động không chính yếu. Điều này giúp công ty tránh được tình trạng bị đọng vốn, tạo nguồn vốn sẵn có cho các hoạt động chủ chốt. Outsourcing còn cải thiện các đánh giá tài chính khi loại bỏ yêu cầu về khả năng thu hồi vốn từ các lĩnh vực không chính yếu.
- Tạo ra dòng tiền thu về: outsourcing cũng tạo ra việc chuyển giao tài sản của khách hàng cho nhà cung cấp như các thiết bị, phương tiện và giấy phép. Xét về bản chất, các tài sản này đều có giá trị và được bán lại một phần cho nhà cung cấp thông qua quá trình chuyển giao, tạo ra dòng tiền thu về.
- Đảm bảo nguồn lực không sẵn có bên trong: công ty thực hiện outsourcing vì họ không thể tiếp cận được các nguồn lực cần thiết xét về nội tại công ty. Chẳng hạn khi công ty mở rộng hoạt động, nhất là khi mở rộng ra một khu vực địa lý mới, sử dụng nguồn lực bên ngoài trở thành một lựa chọn quan trọng so với việc tự xây dựng nên.
Lợi ích của viêc gia công phần mềm:
- Linh hoạt về nhân sự và kỹ năng cần thiết: không ai muốn sa thải nhân viên nhưng nhu cầu không thể đoán trước đôi khi đôi khi người quản lý công ty phải làm việc đó. Mặt khác, tuyển nhân viên mới với các kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết, sau đó tạo điều kiện cho họ theo kịp tiến độ công việc sẽ làm tiêu tốn nhiều thời gian, thu hút nguồn lực từ nhiệm vụ chính yếu. Công ty cung cấp dịch vụ outsourcing có nhiều dự án và vì vậy có thể quản lý năng lực nhân viên có hiệu quả hơn. Khi khách hàng không cần người phát triển nữa, nhà cung cấp sẽ đơn giản chuyển họ sang một dự án khác. Outsourcing cho phép biến ngân sách cho công nghệ thông tin từ chi phí cố định thành chi phí biến đổi.
- Kinh nghiệm: có 3 lĩnh vực lớn thuộc chuyên môn IT là (1) phân tích kinh doanh (business analysis): biết được hoạt động kinh doanh diễn ra như thế nào và phần mềm có thể cải thiện công việc ra sao; (2) tay nghề kỹ thuật (technical skills): biết được cách thức kết nối hệ thống, điều khiển hệ thống…; (3) kỹ năng quản lý dự án (project management skills) biết được phải làm gì để công việc thực hiện đúng lúc với ngân sách cho trước… Nhà cung cấp dịch vụ cũng như khách hàng đều có thể giỏi ở cả 3 lĩnh vực hoặc chẳng giỏi ở lĩnh vực nào. Thị trường luôn bị phân mảnh, trừ trường hợp độc quyền, nên rất khó đánh giá chất lượng trừ khi đã biết rõ đối tác. Giải pháp là thuê một nhà tư vấn có thể đánh giá nhà cung cấp. Một cách đánh giá khác là thực hiện một tiểu dự án với nhà cung cấp. Cả 2 giải pháp này đều tốt nếu công ty muốn xây dựng một quan hệ hợp tác lâu dài.
- Linh hoạt: gia công phần mềm đồng nghĩa với khả năng linh hoạt. Khi phải đối mặt với một dự án lớn nhưng trong một thời hạn ngắn, sử dụng hợp đồng gia công sẽ giúp công ty giới hạn số lượng nhân viên mới và nhân viên quản lý. Công ty có thể tiếp cận lượng lập trình viên gấp nhiều lần khả năng nội tại của mình.
- Lợi ích chi phí: hợp đồng gia công có chi phí thấp hơn nhiều việc thuê lập trình viên, nhất là đối với các công ty mới thành lập (start-up). Lợi ích chi phí của outsourcing rất khó bị đánh bại.
- Độc lập: nhiều công ty phần mềm cũng như các nhà đầu tư không thể đưa ra những phân tích độc lập về sản phẩm của chính mình hoặc là của đối thủ cạnh tranh. Các công ty gia công phần mềm có thể có khả năng phân tích sản phẩm của nhiều công ty khác nhau qua đó đánh giá các tiêu chí cho khách hàng.
Có thể kết hợp giải pháp kinh doanh hiệu quả với một mô hình gia công phần mềm qua đó chuyển giao các giải pháp phần mềm tương ứng, giúp công ty nhận biết được tiềm năng kinh doanh thực sự của mình. Hãng BrickRed của Ấn Độ áp dụng 2 mô hình:
Mô hình từ xa (offsite/offshore models):
Lớp thứ nhất (offsite) thường bao gồm một Trung tâm dịch vụ dự án (project services center), là điểm giao tiếp với khách hàng. Nhóm dịch vụ dự án đảm nhiệm:
- Phân tích (analysis)
- Lập kế hoạch (planning)
- Cấu trúc kỹ thuật (technical architechture)
- Thiết kế bậc cao (high-level design)
- Chuyển giao (delivery)
- Điều phối (coordination) mọi giao tiếp giữa khách hàng và Trung tâm thực hiện dự án (project execution center).
Lớp thứ hai (offshore) là Trung tâm thực hiện dự án thường ở một khu vực hay nước khác. Trung tâm từ xa này bao gồm một nhóm phát triển điều hành bởi giám đốc dự án. Nhóm thực hiện dự án đảm bảo các khâu:
- Thiết kế chi tiết (detailed design)
- Xây dựng (construction)
- Kiểm tra (testing)
- Tư liệu (documentation)
Nhóm offsite thực hiện hầu hết quy trình thiết kế và khai thác trong khi nhóm offshore tập trung vào phát triển và kiểm tra.
Mô hình tại chỗ (onsite/offshore models)
Ở nơi mà bản chất dự án đòi hỏi sự kết hợp hay giao tiếp cao độ, mang tính liên tục hoặc khi có yêu cầu đặc biệt của khách hàng, mô hình tại chỗ (onsite) được sử dụng.
Giám đốc onsite làm việc tại chỗ với khách hàng, điều phối các hạng mục liên quan tới dự án giữa Trung tâm phát triển từ xa (offshore development center) va khách hàng. Sự có mặt tại chỗ này có thể chỉ đòi hỏi một nguồn lực đơn lẻ hoặc toàn bộ nhóm dịch vụ dự án, tùy theo bản chất, quy mô và độ phức tạp của công việc phát triển ban đầu. Đặc trưng quan trọng của mô hình này là:
- Đòi hỏi một người điều phối hoặc một giám đốc dự án tại chỗ.
- Thành phần onsite có thể bao gồm một hay nhiều nguồn lực tùy vào quy mô và tính phức tạp của dự án. Phần lớn công việc có thể chuyển cho đơn vị thực hiện từ xa. Điều này có thể tiết kiệm chi phí cho khách hàng.
Cần chú ý rằng chẳng có hình thức tài liệu nào, dù dễ hiểu đến đâu, có thể trao ngay cho nhà cung cấp dịch vụ mà công ty có thể hoàn toàn an tâm mình sẽ nhận được những gì mình muốn. Các tài liệu tin cậy chỉ có thể là kết quả của quá trình kiểm tra và phân tích, thường được đánh dấu bằng chuỗi tài liệu:
- Yêu cầu đề xuất RFP (request for proposal): tài liệu này tìm hiểu khả năng của nhà cung cấp dịch vụ, mô tả các yêu cầu trên góc độ kinh doanh và góc độ sản phẩm, thiết lập một trục thời gian cho dự án và đưa ra giá ước tính.
- Đề xuất các bước công việc SOW (statement of work): bắt đầu với các mô tả cao cấp về nhu cầu kinh doanh và giải pháp của nhà cung cấp dịch vụ, tính đến cả tình huống hệ thống sụp đổ. Tài liệu này cũng cần mô tả cơ chế chuyển giao, tiêu chí và thủ tục chấp nhận, kế hoạch thời gian và giá cung cấp giải pháp. SOW cũng bao gồm các vấn đề pháp lý và hợp đồng như quyền sở hữu tài sản, điều khoản và điều kiện thanh toán, giới hạn tin cậy…
- Chi tiết yêu cầu kinh doanh (business requirement specification) và chi tiết chức năng (functional specification): sau khi được chọn, nhà cung cấp thường phải thực hiện phân tích các yêu cầu, tiếp xúc với những người điều hành và người sử dụng cuối cùng (end user). Các đánh giá độc lập của họ sẽ giúp đảm bảo đáp ứng đúng nhu cầu kinh doanh. Thông qua phân tích, nhà cung cấp sẽ rà soát lại SWO bao gồm giá cho các bước thiết kế, phát triển và khai thác rồi đưa ra các chi tiết yêu cầu kinh doanh và chức năng. Yêu cầu kinh doanh cho biết sản phẩm là gì còn chi tiết chức năng trình bày cách làm ra sản phẩm đó.
Khách hàng và nhà cung cấp đều cần tôn trọng quy trình này. Ngoài chi tiết về sản phẩm, để dự án thành công, chi tiết về phương thức phối hợp giữa hai bên đối tác cũng là yếu tố quyết định sự thành công.
Tài liệu tham khảo:
- How to Succeed with Outsourced Product Development, Bharat Khatau, DM Review, 28/05/2004.
- IT Outsourcing, BrickRed, 2004.
- Outsourcing Glossary, OffshoreXperts, 2004.
- Offshoring: Business Models, ROI and Best Practices, Marcia Robinson & Ravi Kalakota, 23/1/2004.
(Tổng hợp)
Xử lý phân tích dữ liệu trực tuyến – OLAP
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 01.03.2004
Nếu hệ thống xử lý chuyển giao dữ liệu OLTP tập trung vào việc thu thập, lưu trữ và biến đổi dữ liệu một cách chuẩn xác, thì OLAP (OnLine Analytical Processing) tập trung vào việc sử dụng các dữ liệu đã được biến đổi vào việc ra quyết định sản xuất kinh doanh. OLAP là một mục trong các phần mềm cơ sở dữ liệu cung cấp giao diện qua đó người sử dụng có thể biến đổi hoặc giới hạn các dữ liệu sơ khai tuỳ theo các hàm đã định nghĩa hoặc do chính người sử dụng định nghĩa, sau đó nhanh chóng kiểm tra các kết quả trong các chiều khác nhau của dữ liệu.
OLAP trước hết bao gồm việc tập hợp một số lượng khổng lồ các dữ liệu hết sức đa dạng, có thể là hàng triệu mục dữ liệu trong các mối quan hệ phức tạp. Mục tiêu của OLAP là phân tích các mối quan hệ đó và tìm kiếm các mô hình, xu hướng, và các ngoại lệ.
OLAP cũng được định nghĩa là hình thức phân tích nhanh thông tin đa chiều (multidimension) được chia sẻ giữa những người sử dụng, hỗ trợ xử lý các kết quả theo lô gíc và nguyên tắc thống kê, thực hiện các yêu cầu về bảo mật và các yêu cầu về cập nhật đồng thời (tức là khi hai transaction cùng diễn ra). Hệ thống phải cung cấp dữ liệu dưới nhiều góc độ (tính đa chiều), kể cả khả năng hỗ trợ đa cấp (multi hierarchies).
Trong mô hình dữ liệu OLAP, thông tin được định nghĩa như các khối hộp (cubes) với các chiều (các mục mô tả) và các thước đo (các giá trị lượng hoá). Với mô hình dữ liệu đa chiều, người sử dụng có thể dễ dàng lập những truy vấn (query) phức tạp, sắp xếp dữ liệu trên một báo cáo, chuyển từ giản lược sang dữ liệu chi tiết, lọc và phân tách dữ liệu thành các tập hợp phụ (subset). Ví dụ, các chiều đặc thù trong một khối hộp chứa các thông tin bán hàng gồm thời gian, vị trí, sản phẩm, kênh phân phối, tổ chức, doanh số dự trù và trên thực tế. Các thước đo đặc thù có thể bao gồm doanh thu ($), đơn vị bán, tồn kho, thu nhập, và chi phí.
Trong mỗi chiều của một mô hình dữ liệu OLAP, dữ liệu có thể được sắp xếp trong một hệ phân bậc theo mức độ chi tiết của dữ liệu. Ví dụ, trong chiều thời gian có thể có 3 mức: năm, tháng, và ngày. Tương tự, trong chiều địa lý có thể có các mức: nước, vùng, tỉnh, và thành phố. Cá biệt có mô hình dữ liệu OLAP chứa các giá trị đặc trưng riêng với từng mức của hệ phân bậc. Người sử dụng sẽ xem xét dữ liệu OLAP sẽ truy cập theo các mức độ để biết thông tin nào nhiều hay ít chi tiết hơn.
Những thành phần mà OLAP sử dụng để thực hiện các dịch vụ bao gồm:
Nguồn dữ liệu: Các cơ sở dữ liệu OLTP và các nguồn dữ liệu hợp lệ khác chứa các dữ liệu có thể chuyển đổi thành dữ liệu OLAP trong kho lưu trữ.
Kho trung gian: Nơi lưu trữ và xử lý dữ liệu được tập hợp sau đó được sắp xếp, sàng lọc, và chuyển đổi thành dữ liệu OLAP hữu ích.
Máy chủ lưu trữ: Các máy tính chạy cơ sở dữ liệu liên kết chứa các dữ liệu cho kho lưu trữ, và các máy chủ quản lý dữ liệu OLAP (warehouse server).
Ứng dụng thông minh: Các bộ công cụ và ứng dụng thực hiện truy vấn dữ liệu OLAP và cung cấp các báo cáo và thông tin cho những người ra quyết định của doanh nghiệp (business intelligence).
Siêu dữ liệu: Các đối tượng như các bảng biểu trong cơ sở dữ liệu OLTP, các khối trong kho lưu trữ dữ liệu, và các bản ghi mà ứng dụng tham chiếu tới các đoạn dữ liệu khác nhau.
Việc chuyển đổi dữ liệu OLTP sang dữ liệu OLAP trong kho lưu trữ được thực hiện thông qua các quy trình sau:
Hợp nhất dữ liệu: tất cả các dữ liệu liên quan tới các mục đặc trưng (sản phẩm, khách hàng, hay nhân viên) phải có khả năng hợp nhất từ nhiều hệ thống OLTP tới một hệ thống OLAP đơn. Quy trình hợp nhất phải giải quyết được sự khác nhau về mã hoá giữa các hệ thống OLAP, phù hợp với các dữ liệu chung được sử dụng ở cả hai hệ thống có thể bằng cách so sánh các trường tương tự, có thể biến đổi dữ liệu lưu trữ từ nhiều loại dữ liệu khác nhau trong mỗi hệ thống OLTP thành một loại dữ liệu duy nhất được sử dụng trong hệ thống OLAP.
Các hệ thống cung cấp các dữ liệu đầu vào cho một hệ thống OLAP không nhất thiết phải là các hệ thống OLTP truyền thống mà có thể được lưu trữ ở nhiều dạng hợp lệ, chẳng hạn như các bản ghi Microsoft Excel trong một tệp được chia sẻ.
Quét dữ liệu: Việc hợp nhất dữ liệu OLTP vào một kho dữ liệu (data warehouse) tạo điều kiện quét dữ liệu. Một số hệ thống OLTP đánh vần các đề mục khác nhau, hoặc quá trình hợp nhất có thể gây ra các lỗi chính tả. Sự không thống nhất này phải được chỉnh sửa trước khi dữ liệu có thể được nhập vào kho lưu trữ phục vụ cho hệ thống OLAP.
Tập hợp dữ liệu: Dữ liệu OLTP ghi nhận tất cả các chi tiết của transaction. OLAP chỉ truy vấn những dữ liệu tổng kết cần thiết, hoặc các dữ liệu được tập hợp bằng một số quy tắc nhất định. Ví dụ, một truy vấn lấy tổng doanh thu hàng tháng cho mỗi sản phẩm trong năm trước sẽ chạy nhanh hơn nếu cơ sở dữ liệu chỉ có các dòng tổng kết doanh thu hàng ngày (hoặc từng giờ) của mỗi sản phẩm, so với truy vấn phải quét tất cả các bản ghi chi tiết trong vòng 1 năm. Mức độ tập hợp dữ liệu trong kho lưu trữ phụ thuộc vào số lượng các yếu tố thiết kế (giống như lập trình hướng đối tượng).
Sắp xếp dữ liệu: Khi dữ liệu OLTP được chuyển vào kho lưu trữ, chúng sẽ phải được biến đổi theo cách sắp xếp hợp lý hơn đối với nhu cầu phân tích nhằm đưa ra quyết định và hạn chế tiêu phí thời gian. Quá trình thiết lập kho lưu trữ bao gồm cả việc sắp xếp lại dữ liệu OLTP, lưu trong các bảng biểu liên kết, thành dữ liệu OLAP được lưu trong các khối đa chiều. Dữ liệu sau đó được tải vào kho lưu trữ.
Truy cập và phân tích dữ liệu: Khi dữ liệu đã được tải vào kho lưu trữ, OLAP cung cấp khả năng truy cập, xem, và phân tích dữ liệu với độ linh hoạt và hiệu quả cao. OLAP trình bày dữ liệu thông qua mô hình dữ liệu tự nhiên và trực quan, giúp cho người sử dụng xem và hiểu một cách tốt nhất những thông tin trong kho lưu trữ. Từ đó cho phép người sử dụng nhận biết được giá trị của dữ liệu.
OLAP sau đó tăng tốc độ chuyển giao thông tin tới người sử dụng các cấu trúc dữ liệu đa chiều này bằng cách tính toán các giá trị trong dữ liệu trước khi thực hiện lệnh. Sự kết hợp giữa khả năng duyệt dữ liệu dễ dàng và kết qủa nhanh chóng cho phép người sử dụng xem và phân tích dữ liệu nhanh và hiệu quả hơn so với các công nghệ chỉ liên kết trong cơ sở dữ liệu. Từ đó, người sử dụng sẽ có nhiều thời gian hơn trong việc phân tích dữ liệu và tiết kiệm được thời gian hơn trong việc phân tích cơ sở dữ liệu.
Dữ liệu và xử lý chuyển giao dữ liệu trực tuyến – OLTP
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 26.02.2004
Các ứng dụng truyền thông trong kinh doanh xử lý các dữ liệu nhằm đưa ra các thông tin cần thiết. Ví dụ việc xử lý đơn đặt hàng, đặt chỗ máy bay, kiểm soát tín dụng… đều là các chuyển giao (transaction) dữ liệu kinh doanh. Mỗi chuyển giao được định nghĩa là một đơn vị xử lý dữ liệu kinh doanh riêng biệt tạo nên một thực thể lô gíc trong ứng dụng. Đầu ra của quy trình xử lý chuyển giao dữ liệu, nếu cần thiết, sẽ được lưu trữ trong kho dữ liệu (data warehouse), và có thể được xử lý tiếp qua qúa trình xử lý phân tích dữ liệu trực tuyến phục vụ cho việc ra quyết định sản xuất kinh doanh.
Dữ liệu (data), nguyên gốc Latin có nghĩa là “that which is given”. Dữ liệu không tự nhiên mà có mà là kết quả của quá trình thu thập. Chẳng hạn trong các ngành khoa học, thu thập dữ liệu thường liên quan tới các kỹ thuật quan sát và ghi chép, là dạng sơ khai trước khi cho ra các kết quả khoa học. Thông tin là những dữ liệu đã được chuyển đổi thành dạng có nghĩa. Quá trình xác định mối quan hệ giữa các dữ liệu đòi hỏi các kiến thức cần thiết về khả năng nhận thức và nắm bắt chuỗi thông tin cũng như phương thức làm cho thông tin đó có khả năng đáp ứng một nhiệm vụ cụ thể. Trong quản lý, giá trị của thông tin có liên quan trực tiếp tới việc thông tin đó giúp đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Khái niệm xử lý chuyển giao dữ liệu trực tuyến: Các ứng dụng xử lý chuyển giao dữ liệu trực tuyến – OLTP (OnLine Transaction Processing) là những ứng dụng giúp user truy cập trực tiếp thông tin theo hình thức ứng dụng client/server. OLTP bao gồm một dãy lệnh: thu nhận (gathering) dữ liệu đầu vào, xử lý (processing) dữ liệu, và cập nhật (updating) dữ liệu cũ với dữ liệu mới được nhập và xử lý.
Mỗi một “điệp vụ”, ứng dụng OLTP chỉ xử lý một transaction. Ví dụ transaction đầu vào yêu cầu một bảng cân đối tài khoản, transaction sau sẽ cập nhật bản cân đối đó. User có thể truy cập trực tuyến vào hệ thống và dữ liệu. Trong một môi trường xử lý chuyển giao dữ liệu, nhiều user (chẳng hạn các nhân viên đặt vé máy bay hay các nhân viên ngân hàng tại quầy) xử lý lặp đi lặp lại các transaction, và yêu cầu phản hồi (response) nhanh chóng đối với mỗi transaction.
Trong khi dữ liệu đang được một transaction cập nhật, có thể có hoặc không một khoá ngăn không cho transaction khác truy cập dữ liệu. OLTP là phương thức hiệu quả khi các user muốn:
- Xử lý các dữ liệu đơn vô hạn định với số lượng và tần số không thể ước lượng.
- Truy cập tức thì vào dữ liệu đã được cập nhật, phản ánh các transaction trước đó.
- Thay đổi dữ liệu tức thì để phản ánh transaction vừa xử lý.
Các chức năng cơ bản của OLTP: cùng với khả năng truy cập và cập nhật các dữ liệu chia sẻ, các hệ thống OLTP còn hỗ trợ các user khả năng truy cập trực tuyến (online), khả năng truy cập tức thời (availability), khả năng phản hồi nhanh chóng (response), và tiết kiệm chi phí đối với từng transaction (low cost).
Truy cập trực tuyến: để truy cập, user cần một thiết bị đầu cuối (terminal) hoặc một máy trạm (workstation) nối với hệ thống. Kết nối vật lý có thể thông qua mạng nội bộ LAN, mạng mở rộng WAN (bao gồm cả mạng nội thị MAN), hay internet. Kết nối lô gíc được cung cấp bởi hệ thống OLTP hoặc riêng lẻ, hoặc được liên kết với một phương thức truy cập truyền thông và trình điều khiển mạng.
Truy cập tức thời: một hệ thống OLTP phải luôn sẵn sàng khi bất cứ một nhân viên nào của công ty có nhu cầu truy cập. Ngày nay, ngày càng có nhiều công ty đòi hỏi lich trình làm việc 24 giờ mỗi ngày, và thậm chí 7 ngày mỗi tuần. Khả năng truy cập tức thời có được thông qua chất lượng và công nghệ kết nối phần cứng, phần mềm, ứng dụng, và các thiết bị hay tiện ích tự động phục hồi (recover) từ bất cứ lỗi cấu tạo nào. Cùng với khả năng sửa lỗi, hệ thống OLTP cũng cần giảm thiểu ảnh hưởng của các hoạt động bất thường như nâng cấp phần cứng, thay đổi phần mềm, chuyển đổi công việc, lưu trữ dữ liệu, và tái cơ cấu tổ chức.
Phản hồi nhanh chóng: các nhân viên sử dụng hệ thống OLTP liên tục như một phần của công việc hàng ngày. Vì thế thời gian phản hồi phải có độ trễ đủ ngắn để duy trì hiệu quả công việc của user tại các terminal. Một hệ thống OLTP có khả năng ưu tiên các transaction, cho phép thực hiện trước các transaction được chỉ định. Và như vậy được coi là có khả năng phản hồi nhanh chóng với các transaction được chỉ định và có khả năng phản hồi chậm hơn, nhưng hợp lý, đối với các transaction khác. Để duy trì độ trễ phản hồi hợp lý ngay cả trong những giờ cao điểm có nhiều yêu cầu truy cập nhất, hệ thống OLTP còn được trang bị một cơ chế sắp xếp tối ưu.
Tiết kiệm chi phí: đại bộ phận các hệ thống OLTP được sử dụng cho các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp. Chi phí xử lý mỗi transaction vì thế được tính là một phần chi phí sản xuất kinh doanh, cũng như là một phần nhỏ của giá trị kinh doanh từ dữ liệu được xử lý chuyển giao. Chi phí cho từng transaction chiếm một tỷ lệ trong tổng chi phí cần thiết của hệ thống để thực hiện transaction. Như vậy, mỗi transaction phải được sắp xếp, xử lý, và kết thúc một cách có hiệu qủa. Mỗi một bước thực hiện phải được tối ưu hoá để có hiệu quả xuyên suốt quá trình OLTP.
Máy tính sử lược
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 31.01.2004
Thomas Watson, cựu chủ tịch của IBM, vào năm 1943 từng nói “Tôi nghĩ trên thế giới sẽ chỉ tồn tại một thị trường cho 5 chiếc máy tính”. Còn A. G. Bell cũng tin rằng phát minh điện thoại của ông chỉ được dùng cho người khiếm thính. Cả hai ông đều đã nhầm khi mà ngày nay, các sản phẩm của họ đã và đang làm thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé.
Bài viết này nhằm tóm lược vài nét lịch sử của máy tính, truyền thông và mạng thông tin.
Truyền thông gồm việc đưa thông điệp từ chủ thể và việc nhận và hiểu thông điệp của các đối tượng nhận thông điệp. Đây là đặc tính của bất cứ xã hội nào, từ loài kiến tý hon cho tới loài người thông minh. Người tiền sử giao tiếp thông qua việc ngôn ngữ ra dấu mà hiện nay vẫn còn tồn tại như cái gật đầu, bắt tay… và các hình vẽ. Cùng với việc hình thành xã hội là sự phát sinh nhu cầu truyền thông từ xa. Con người sử dụng tín hiệu lửa khói và thậm chí nhịp trống để báo hiệu từ xa. Việc truyền thông dựa trên giao tiếp mặt đối mặt hay truyền miệng từ người thứ ba. Các hình vẽ dần được thay thế bằng chữ viết và thư tín bắt đầu được sử dụng. Bên cạnh đó, nhu cầu tính toán cũng hình thành cùng với lịch sử thương mại. Khoảng 5 ngàn năm trước ở Tiểu Á, bàn tính đã được các thương gia sử dụng. Tới năm 1642, Blaise Pascal (1623-1662), khi đó mới 18 tuổi, đã chế tạo ra bàn tính Pascaline với 8 chữ số cho bố.
Công nghệ đã đem lại một bước ngoặt lớn cho truyền thông thông tin kể từ sau cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (1712 – 1830) với phát minh của máy dệt và máy hơi nước. Thư tín và hàng hoá bắt đầu được vận chuyển bằng tàu hỏa và tàu biển chạy hơi nước. Chuyển biến kinh tế vào thế kỷ 18 đã làm thay đổi cảnh quan nước Mỹ. Đường xá và đường xe lửa được xây dựng khắp nơi. Tuy tốc độ truyền thông tin đã được cải thiện nhưng báo chí luôn ở trong tình trạng thông tin qúa đát. Khi người Mỹ du nhập về phía tây, nhu cầu về truyền thông liên lục địa tăng đáng kể. Thư tín lúc đó là một hệ thống không đáng tin cậy. Một người ở New England muốn gửi thư cho người thân ở Anh (England) phải gửi bằng đường biển với giá cắt cổ. Hệ thống thư tín trong đất liền còn được nối bằng các trạm ngựa. Một bức thư từ New York tới San Francisco phải mất 8 ngày trên lưng ngựa qua St. Joseph, Missouri, rồi Sacramento, California, sau đó lên tàu 4 tháng qua mũi Hảo Vọng (Cape Horn) tới San Francisco. Công việc kinh doanh vì thế khó mà dựa vào thư tín. Tốc độ của truyền thông khi đó nếu nhanh hơn đã có thể ngăn chặn được cuộc chiến Anh – Mỹ năm 1812 không nổ ra. Khi đó, nước Anh gửi đớcmotjcon tàu mang thông điệp “Nước Anh sẽ không can thiệp tới hệ thống hàng hải của Mỹ” trước khi Mỹ tuyên chiến 2 ngày. Tuy nhiên khi con tàu cập bến nước Mỹ thì chiến tranh đã nổ ra từ lâu.
Điện tín
Cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ hai (về điện và hóa chất), phát minh máy điện tín của Samuel F. B. Morse ra đời. Chắc ai cũng phải bồi hồi khi đọc những dòng đầu tiên mà Morse truyền qua hệ thống của mình: “Mẩu tin này được viết bởi tôi từ Washington tại Trạm cuối Baltimore lúc 8h45′ thứ 6 ngày 24 năm 1844, là mẩu tin đầu tiên được truyền đi từ Washington tới Baltimore bằng điện tín…”. đoạn tin được gửi bằng cách gõ một loại mã cho từng chữ cái. Máy điện tín chuyển các mã chấm và gạch này thành các xung điện tương ứng và truyền qua dây điện tín. Bộ mã Morse dần trở nên hoàn chỉnh và là cơ sở cho bộ mã ASCII sau này (American Standard Code for Information Interchange). Các đường cáp xuyên lục địa và xuyên biển sau đó được xây dựng tạo điều kiện cho truyền thông quốc tế. Tập đoàn viễn thông đầu tiên ra đời khi ấy là Western Union của Mỹ thâu tóm 12 công ty, trong đó có công ty điện tín Western Union. Năm 1873, Western Union trở thành cổ đông chính trong công ty điện tín International Ocean, đặt một chân vào thị trường điện tín quốc tế. Tốc độ truyền thông đã trở nên nhanh và rẻ, tạo công ăn việc làm, nhất là cho phụ nữ. Thương mại giảm được độ trễ giao dịch, báo chí thu được thông tin nóng hổi. Tuy nhiên, bộ mã Morse quốc tế và bộ mã Morse của Mỹ vẫn chưa thống nhất. Việc truyền tin đòi hỏi kỹ thuật chuyên biệt và chỉ tới được nơi nào có cáp.
Điện thoại
Năm 1875, chiếc điện thoại đầu tiên ra đời nhờ phát minh của Alexander Graham Bell. Ông khám phá ra, khi thí nghiệm một mạch với một máy thu và hai máy phát, rằng máy thu có thể phát ra âm thanh khi điện được truyền qua nó và ngược lại, nó có thể tạo ra điện khi có âm thanh làm chuyển động lõi nam châm trong cuộn dây điện. Một điều lý thú nữa là điện biến thiên theo âm thanh. Cho đến năm 1884, người ta đã có thể gọi đường dài từ Boston tới New York City. Tuy nhiên, có lẽ Bell không thể hình dung được là ngày nay thậm chí cả phim ảnh cũng có thể truyền qua đường điện thoại. Phát minh của bộ chuyển mạch (switchboard) và bộ khuyếch đại (amplifier) đã đưa điện thoại đến từng gia đình. Không giống như điện tín, người dùng điện thoại không cần phải biết đến bộ mã Morse và cũng chẳng phải đi đâu xa để gửi điện nữa. Thông tin có thể được truyền đi tức thì và công việc kinh doanh cũng phát đạt nhờ điện thoại. Người bán có thể giao dịch trực tiếp với từng khách hàng. AT&T, tập đoàn điện tín điện thoại lớn nhất bấy giờ của Mỹ cùng với các công ty cùng ngành đã tạo thêm biết bao giá trị và công ăn việc làm. Khái niệm “thời gian thực” (real-time) bắt đầu hình thành.
Năm 1889, nhà phát minh người Mỹ Herman Hollerith (1860-1929) đã tìm cách tự động hoá việc tính kết quả điều tra dân số của Mỹ. Công việc này trước đó phải mất tới 10 năm tính toán cho mỗi lần điều tra. Hollerith sử dụng các thẻ đục lỗ để ghi thông tin qua một cỗ máy chạy bằng điện gọi là “Punch Card Tabulating Machine”. Mỗi thẻ như vậy có thể chứa 80 biến số và thay vì 10 năm, công việc tính toán thu lại chỉ còn 6 tuần. Hơn thế nữa, các thông tin chứa trong thẻ giảm thiểu được các sai sót. Hollerith sau đó thành lập công ty Tabulating Machine Company (TMC) vào năm 1896, đưa phát minh của mình vào thế giới kinh doanh. TMC đổi tên thành International Business Machines (IBM) vào năm 1924 sau một loạt cuộc sát nhập. Từ đó, chính phủ Mỹ và giới kinh doanh đều sử dụng các thẻ đục lỗ để lưu trữ dữ liệu. Năm 1944, IBM giới thiệu máy tính tự động cỡ lớn đầu tiên ASCC (Automatic Sequence Controlled Calculator), còn goi là Mark I, cho trường Đại học Harvard, có khả năng tự động tính các phép toán dài.
Thế hệ máy tính đầu tiên
Năm 1945, máy tính đầu tiên được thiết kế bởi John von Neumann (1903-1957) với tên gọi Electronic Discrete Variable Automatic Computer (EDVAC) với một bộ nhớ cho cả chương trình lưu trữ và dữ liệu. Yếu tố chính trong cấu trúc máy của Neumann là bộ xử lý trung tâm (CPU) cho phép mọi chức năng tính toán sử dụng một nguồn duy nhất. Năm 1951, máy tính UNIVAC I (Universal Automatic Computer) thiết kế bởi Remington Rand trở thành sả phẩm máy tính thương mại đầu tiên sử dụng đặc tính mới trên. Cục điều tra dân số Mỹ và General Electric đều sử hữu các máy UNIVAC. Mỗi chiếc máy thế hệ đầu tiên chạy bằng một chương trình mã nhị phân gọi là ngôn ngữ máy. Điều này làm giảm tốc độ xử lý và tính linh hoạt của máy tính. Dữ liệu được lưu trữ thông qua việc sử dụng các ống chân không, làm máy tính có kích thước rất lớn.
Thế hệ máy tính thứ hai
Phát minh thiết bị bán dẫn năm 1948 đã thay thế các ống chân không trong ti vi, đài và máy tính. Kich thước của máy tính nhờ đó đã giảm đi đáng kể. Ngôn ngữ máy được thay thế bằng ngôn ngữ assembly (tập hợp), cho phép các mã lập trình ngắn gọn thay thế các mã nhị phân dài dòng và khó hiểu. Rất nhiều các dòng máy tính thương mại ra đời như Burroughs, Control Data, Honeywell, IBM, Sperry-Rand… được sử dụng trong các tổ chức chính phủ, các trường đại học cũng như các tổ chức kinh doanh. Các nghề nghiệp mới xuất hiện như lập trình, phân tích hệ thống… cùng với ngành công nghiệp phần mềm.
Thế hệ máy tính thứ ba
Tuy thay thế được các ống chân không, các thiết bị bán dẫn có một nhược điểm là tạo nhiệt lượng lớn có thể làm hỏng các bộ phận nhạy cảm bên trong máy tính. Việc sử dụng đá thạch anh (silicon) đã khắc phục được điều này. Năm 1958, kỹ sư Jack Kilby của Texas Instruments đã chế tạo thành công mạch tích hợp (IC). Tiếp đó, rất nhiều bộ phận có thể được đặt trong một con chip duy nhất và máy tính cứ thu nhỏ dần kích thước. Một điểm nổi bật khác của các máy tính thế hệ thứ 3 là việc ra đời hệ điều hành cho phép máy tính có thể chạy nhiều chương trình cùng một lúc thông qua một chương trình trung tâm kiểm soát và điều phối bộ nhớ.
Khi các máy tính ngày càng phát triển, nhu cầu kết nối các máy lại với nhau để chia sẻ bộ nhớ, phần mềm và thông tin cũng như giao tiếp qua lại dần được hình thành. Chiếc modem đầu tiên được bán vào năm 1962 là Bell 103 của AT&T. Đây là một thiết bị nhận dữ liệu số hoá từ máy tính, hiệu chỉnh (modulate) thành tín hiệu tương tự (analogue) để truyền qua đường điện thoại. Ở đầu bên kia, một modem khác làm công việc tái hiệu chỉnh (demodulate) các tín hiệu đó thành dạng số mà máy tính nhận biết được. Tên gọi “MODEM” xuất phát từ 2 chức năng chính là “MOdulate” và “DEModulate”. Chiếc modem đầu tiên có thể truyền dữ liệu với tốc độ 300bps.
Tháng 8/1962, J.C.R. Licklider của học viện công nghệ Masachusette (MIT), trưởng bộ phận nghiên cứu máy tính của Cơ quan ARPA (Advanced Research Project Agency) của Mỹ, đã đưa ra khái niệm mạng “Galactic Network” miêu tả một xã hội tương tác thông qua mạng máy tính. Ông phác họa hình ảnh một hệ thống máy tính toàn cầu qua đó bất cứ ai cũng có thể truy cập dữ liệu và tải về các phần mềm. Tới năm 1965, hai nhà nghiên cứu Lawrence G. Roberts và Thomas Merrill của MIT đã thử kết nối máy tính TX-2 từ Massachusette tới máy tính Q-32 ở California bằng đường điện thoại quay số tốc độ chậm. Có thể coi đây là mạng máy tính đầu tiên với khả năng chạy chương trình và truy cập dữ liệu từ máy trạm. Mạng máy tính cho phép các máy cá thể tạo thành một tổ hợp điện tử. Một số khái niệm mới được hình thành: mạng LAN (Local Area Network), mạng nội bộ, kết nối các máy tính trong một phạm vi giới hạn như trong một toà nhà; mạng WAN (Wide Area Network), mạng mở rộng, kết nối các máy tính ra ngoài phạm vi giới hạn và có thể kết nối các mạng LAN với nhau… Cũng trong năm này, IBM phát triển hệ thống đặt vé SABRE (Semi-Automatic Business-Related Environment) cho American Airlines. Hệ thống này nối các máy tính truyền dữ liệu về số ghế và tư liệu khách hàng trên hơn 50 thành phố.
Năm 1964, IBM đưa ra máy System/360, máy tính đầu tiên sử dụng được phần mềm trao đổi và các thiết bị ngoại vi. System/360 có tốc độ vượt trội nhờ công nghệ Solid Logic sử dụng gốm cho mạch điện, tin cậy hơn chất bán dẫn trước đó.
Cuối năm 1966, Robert cùng ARPA đã phát triển khái niệm mạng máy tính ứng dụng phương pháp chuyển mạch gói và thiết lập dự án mạng ARPANET. Lúc này, IBM vừa trình làng hệ kiểm soát thông tin khách hàng CICS (Customer Information Control System), cùng phát triển với Michigan Bell. Đây là hệ thống theo dõi giao dịch trực tuyến, thực hiện được nhiều truy vấn tới cùng một tệp dữ liệu với tốc độ cao.
Năm 1968, ARPA trao hợp đồng ARPANET cho BBN Technology. Hệ thống mạng được xây dựng năm 1969, nối 4 đầu mút: Đại học California tại Los Angeles, SRI tại Stanford, Đại học California tại Santa Barbara, Đại học Utah. Mạng kết nối với tộc độ 50 Kbps sử dụng giao thức mạng NCP truyền dữ liệu cho phép giao tiếp giữa các máy chủ (host) trên cùng một mạng. Cũng trong năm 1968, thế hệ máy IBM System/360 Model 85 xuất hiện với bộ nhớ đệm (buffer memory), tăng tốc độ truy xuất thông tin hơn 12 lần bộ nhớ chính (main-core memory).
Chương trình e-mail đầu tiên được Ray Tomlinson của BBN viết vào năm 1972 cho phép người sử dụng gõ địa chỉ máy tính đích và gửi thông điệp (giống như giấc mơ của Samuel F. B. Morse) thông qua các máy trạm nối mạng. Có thể coi Internet là thành quả của việc đầu tư nghiên cứu và phát triển hạ tầng thông tin. Cùng với công nghệ chuyển mạch gói, chính phủ, các ngành và học viện đã trở thành đối tác phát triển và khai thác mạng máy tính toàn cầu.
Thế hệ máy tính thứ tư
Năm 1970, IBM System/370 ra đời với công nghệ bộ nhớ ảo (virtual memory), kỹ thuật sử dụng một phần đĩa cứng cung cấp bộ nhớ cần thiết cho phần mềm. Lúc này, IBM cũng giới thiệu khái niệm về cơ sở dữ liệu cho phép thông tin lưu trữ trong máy tính được sắp xếp thành các bảng giản đơn để người sử dụng có thể quản lý và truy cập mà không cần biết về kỹ thuật.
Con chip Intel 4004 năm 1971 đã đánh dấu một bước tiến thần kỳ trong công nghệ mạch tích hợp khi tất cả các thành phần của máy tính (bộ xử lý trung tâm, bộ nhớ, bộ kiểm soát input, output) đều được tích hợp vào một chip nhỏ bé. Bộ vi xử lý đã có thể được sản xuất hàng loạt cho cả các ứng dụng trong lò vi sóng, ti vi, ô tô… Đĩa mềm, ra đời vào thời gian này, trở thành tiêu chuẩn để lưu trữ dữ liệu cá nhân. Năm 1972, chip Intel 8008 ra đời với tốc độ gấp đôi đã khiến Bill Gates khi ấy mới 16 tuổi, cùng Paul Allens thành lập công ty Traf-O-Data bán máy tính sử dụng trìh ứng dụng cho con chip này.
Năm 1973, giao thức mạng TCP/IP được DARPA phát triển cho phép máy tính của các mạng khác biệt có thể kết nối và giao tiếp được với nhau. Đây là năm mà IBM thiết kế thành công hệ thống thanh toán và kiểm kê siêu thị (supermarket checkout station) sử dụng lăng kính, thấu kính và tia laser để đọc mã sản phẩm. Đồng thời, khách hàng của các ngân hàng rút tiền, chuyển tiền và thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng khác thông qua thiết bị giao dịch IBM 3614, hình ảnh của các máy rút tiền tự động ATM ngày nay (Automatic Teller Machines).
Hai năm sau, năm 1975, con chip 8800 ra đời với sức mạnh gấp 10 lần chip 8008 mà Traf-O-Data đã dùng, được gắn trên máy Altair do Micro Instrumentation Telemetry Systems (MITS) chào bán. Đây là một máy điện toán nhỏ được xem như chiếc PC thành công đầu tiên trên thế giới với cấu trúc board mở chứa các slot (khe cắm) làm sẵn, mở đường cho sự phát triển của máy tính sau này. Cùng năm đó, IBM tung ra một loạt máy tính PC IBM 5100, và sau đó là 5110, 5120, Data master, 5150 PC tuy nhiên giá bán còn khá cao. Traf-O-Data dồn sức viết ngôn ngữ BASIC mới cho Altair và sau đó MITS không những đã mua BASIC (licensing) mà còn cấp nơi làm việc cho Bill Gates và Paul Allens. Traf-O-Data được đổi tên thành Micro-Soft, rồi sau đó trở thành “Microsoft” tại bang New Mexico vào ngày 26/11/1976.
Vào cuối thập kỷ 70, các công ty lớn, kể cả IBM và DEC, không tin tưởng mấy vào tương lai của máy tính cá nhân. Tuy nhiên IBM vẫn xúc tiến các hoạt động thăm dò khả năng phát triển của máy tính cá nhân so với các sản phẩm máy tính lớn của họ. Một kế hoạc bí mật được bàn bạc với Microsoft trong việc phát triển các phần mềm cho máy tính cá nhân trong trường hợp cần xuất xưởng tức thì. Đúng lúc này, Microsoft đang thương lượng mua lại hệ điều hành Q-DOS của Seattle Computer. May cho Microsoft là IBM lúc đó đã giữ quá kín kế hoạch của mình nên cuối cùng Q-DOS đã lọt vào tay Microsoft chỉ với giá 50 ngàn usd. Q-DOS sau trở thành MS-DOS, bước ngoặt lớn trong lịch sử của Microsoft nói riêng và của ngành công nghiệp tin học nói chung.
Sau khi xác định rằng máy tính không còn chỉ dành riêng cho các hoạt động kinh doanh lớn hay các hợp đồng với chính phủ mà đi vào đời sống hàng ngày. 12/8/1981, IBM giới thiệu máy tính cá nhân IBM PC sử dụng hệ điều hành 16-bit Microsoft MS-DOS v.1.0, cùng với Microsoft BASIC, Microsoft COBOL, Microsoft Pascal, và các trình ứng dụng khác của Microsoft. Máy tính này có 16 kilobyte bộ nhớ (mở rộng tới 256 kilobyte), có đĩa mềm và màn hình màu. Sang năm 1982, số lượng người sử dụng máy tính cá nhân đã tăng từ 2 triệu lên 5,5 triệu. Mười năm sau đó, số lượng PC vượt ngưỡng 65 triệu máy. Máy tính vẫn tiếp tục thu nhỏ kích thước và tăng tốc độ, từ máy để bàn (desktop) tới máy xách tay (laptop) rồi máy bỏ túi (palmtop). Cùng với sự phát triển của máy Macintosh, Apple đã cộng tác chặt chẽ với Microsoft để phát triển giao diện đồ hoạ dùng chuột. 2/5/1983, Microsoft giới thiệu Microsoft Mouse.
Máy tính của những năm 80 được gọi là thế hệ máy tính thứ năm với tốc độ cực cao. 20/11/1985, Microsoft ra mắt phiên bản hệ điều hành Microsoft Windows đầu tiên, một hệ điều hành mở rộng của MS-DOS sử dụng môi trường đồ hoạ. Cũng trong năm này, IBM đưa ra mạng LAN sử dụng cấu trúc token-ring có thể chia sẻ máy tính, máy in, dự liệu và các thiệt bị khác trong cùng một toà nhà. Cấu trúc token-ring trở thành tiêu chuẩn cho các mạng LAN sau đó. Năm 1988, Microsoft và Ashton-Tate công bố Microsoft SQL Server, phần mềm máy dữ liệu chủ cho mạng LAN dựa trên hệ quản trị dữ liệu của Sybase.
6/4/1992, Microsoft chào bán bản nâng cấp Microsoft Windows 3.1 với hơn 1.000 điểm được cải tiến. Windows 3.1 đã thành công trên mức mong đợi với hơn 1 triệu đơn đặt hàng trước trên khắp thế giới. 23/6/1992, Bill Gates được đích thân tổng thống Bush trao tặng huân chương quốc gia về Thành tựu khoa học công nghệ. Trong năm này, IBM chào bán máy xách tay ThinkPad với con chuột được gắn giữa bàn phím có cái tên mới TrackPoint. 24/5/1993, Windows NT ra đời. Ngày 8/9/1994, Microsoft công bố tên gọi Windows 95 cho phiên bản Windows sắp tới, bí danh là “Chicago”, với chủ ý là sẽ chào bán phiên bản vào năm 1995 và bước đột phá kết thúc dòng phiên bản 3.x, thay xử lý 16-bit bằng 32-bit.
Trong thời gian này, Microsoft chỉ quan tâm tới các dịch vụ siêu thông tin của Prodigy, Compuserve và American Online. Sau khi không thành công trong việc thương lượng mua lại công ty nhỏ nhất trong 3 công ty là American Online, Bill mới quyết định phát triển dịch vụ trực tuyến độc quyền, bí danh là Marvel, tích hợp vào Windows 95. Cho đến tháng 10/1994, khi số lượng internet users tăng lên 10% mỗi tháng thì Mosaic Navigator của Netscape được chào bán, hàng ngàn users đã download phần mềm này từ trên mạng xuống để sử dụng. Lúc này, Microsoft mới huy động nhân lực phát triển một trình duyệt riêng cho Windows 95 sắp ra đời. Microsoft tiến hành đàm phán với 2 công ty Booklink Technologies đang phát triển trình duyệt riêng và Spyglass với quyền sử dụng phiên bản Mosaic đầu tiên. Đến cuối thang 12/1994, Booklink Technologies đã bán công trình của mình cho American Online, Microsoft buộc phải ký hợp đồng Spyglass để đảm bảo thời gian tung Windows 95 ra thị trường. 8/24/1995, Microsoft Windows 95, sau hai lần trì hoãn, đã chính thức ra mắt. Lúc này, giá trị 5% cổ phần của Microsoft đã lên tới 2,7 tỷ usd. 20/11/1995, MSN, “The Microsoft Network online service”, đã có hơn 525,000 thành viên chỉ trong vòng 3 tháng, trở thành nhà cung cấp dịch vụ internet trực tuyến lớn nhất thế giới.
Có mặt ở tất cả các nước, Internet ngày nay cung cấp một hệ thống dịch vụ bao gồm thư điện tử (e-mail), truyền dữ liệu (sử dụng giao thức ftp), truy cập từ xa Telnet, bảng tin (bulletin boards), nhóm tin tức (newsgroups) và đặc biệt là công nghệ World Wide Web (www). Từ năm 1994 tới 1999, số người dùng internet đã tăng từ 3 triệu lên tới 200 triệu. Sự tăng tốc của Internet và mạng máy tính đã tạo ra một sự dịch chuyển trong công nghệ thông tin. Khách hàng tập trung vào các giải pháp kinh doanh tổng hợp (integrated business solutions), một sự kết nối giữa giải pháp, dịch vụ, sản phẩm và công nghệ. Cuộc cách mạng về thương mại điện tử (e-commerce) xuất hiện làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của thế giới. Năm 1996, IBM đưa ra hệ máy tính chỉ dùng mạng (network computer) IBM Network Station, sử dụng các ứng dụng chung qua mạng, giảm thiểu được các chi phí của một máy tính thường. IBM Network Station cho phép khách hàng tiết kiệm đáng kể khi ứng dụng hệ thống mạng vào kinh doanh (net-based business). IBM cũng đưa ra hệ quản trị dữ liệu mạng DB2 Universal Database, có khả năng truy vấn dự liệu kiểu ký tự cũng như kiểu văn bản, hình ảnh, âm thanh, phim và các đối tượng phức tạp khác. Có đến 70% thông tin trên thế giới được lưu trữ bằng hệ quản trị dữ liệu này. Năm 2000, Microsoft tung ra nền Microsoft.NET cho các phầm mềm và dịch vụ của mình. Đây là một bộ phần mềm công nghệ kết nối thông tin, người dùng, các hệ thống và thiết bị. Microsoft.NET dựa trên các dịch vụ Web – các khối ứng dụng nhỏ có khả năng kết nối với nhau và với các ứng dụng lớn khác trên internet. Các thành phần trong Microsoft.NET bao gồm: ứng dụng khách hàng thông minh “Smart Clients”, dịch vụ web “Web Services”, máy chủ “Servers”, công cụ phát triển “Developer Tools”.
Vài nét về quản trị hệ thông tin
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 31.01.2004
Ngày nay, kiến thức đã trở thành một nguồn lực mạnh mẽ trong kinh doanh hiện đại. Hơn bao giờ hết, tất cả các tổ chức kinh doanh trên thế giới đều tập trung phát triển hệ thống thông tin như một nguồn lực chủ chốt trong việc tạo ra ưu thế cạnh tranh cũng như tăng khả năng đáp ứng đối với thị trường. Các thuật ngữ mới như tình báo công nghiệp, lao động tri thức, thương mại điện tử, … càng ngày càng được nhắc đến nhiều cùng với sự ra đời của nền kinh tế tri thức.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất và điều hành doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng giảm chi phí và thời gian cũng như tiết kiệm được các nguồn lực tiêu thụ. Bằng các hệ thống hỗ trợ ra quyết định DSS (Decision Support Systems), trí tuệ nhân tạo AI (Artificial Intelligence) hay các công cụ khai thác dữ liệu DMA (Data-Mining Agents), công nghệ thông tin còn giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả hoạt động thông qua việc hỗ trợ quá trình thu thập, chọn lọc và phân tích thông tin để đưa ra các quyết sách thích hợp.
Cùng với khả năng phân tích thông tin hiệu quả từ nhiều nguồn như: nhà cung cấp, khách hàng, ngành, thị trường, nội bộ… công nghệ thông tin còn là tiền đề cho việc đổi mới sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, một chiến lược cạnh tranh mà bất cứ nhà quản lý nào cũng đều nghĩ tới.
Thêm vào đó, công nghệ thông tin cũng góp phần phát triển một hình thái kinh tế tương hỗ, kinh tế mạng, cung cấp một hạ tầng cơ sở mà ở đó các chủ thể kinh tế tồn tại như một nút mạng có thể tận dụng mọi ưu thế của mạng cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình.
Ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ có các tổ chức kinh doanh mà bản thân các cơ quan nhà nước cũng không thể nằm ngoài xu hướng chung. Khái niệm chính phủ điện tử (E-Government) có lẽ đã ra đời từ khi internet xuất hiện, tuy nhiên việc áp dụng còn là cả một bước đi dài không ít chông gai nhưng đầy hứa hẹn.
Hệ thống tín chỉ giáo dục châu Âu – Một hình thức quản lý chất lượng
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 04.02.2004
Tìm hiểu về Hệ thống tín chỉ giáo dục đại học của châu Âu, tôi nhận thấy đây chính là một tiêu chuẩn quản lý chất lượng trong lĩnh vực giáo dục?”. Vì vậy bài viết dưới đây xin đưa ra một vài thông tin về Hệ thống tín chỉ này dưới góc độ của quản lý chất lượng.
Hệ thống tín chỉ giáo dục châu Âu (ECTS) được xây dựng dựa trên chính sách tự nguyện của các nước, khởi điểm từ Tuyên bố Sorbonne năm 1998, được giới thiệu trong khuôn khổ Erasmus (nay là một bộ phận của chương trình Socrates), được cụ thể hoá và hoàn chỉnh với Tuyên bố Bologne 1999 và Hội nghị Prague 2001. ECTS ban đầu được thiết kế cho việc chuyển giao tín chỉ nhằm tạo điều kiện cho việc công nhận thời gian học tập của sinh viên ở nước ngoài, qua đó tăng chất lượng giảng dạy và số lượng sinh viên trao đổi giữa các nước châu Âu. ECTS sau đó được phát triển thành một hệ thống tín chỉ cộng dồn, áp dụng với các cấp độ học viện, khu vực, quốc gia và toàn châu Âu. ECTS dựa trên quy ước 60 tín chỉ đo lường khối lượng học tập mà một sinh viên chính khoá được trang bị trong một năm học. Đại đa số các chương trình đại học châu Âu thường gồm từ 36 đến 40 tuần mỗi năm, trong đó, mỗi tín chỉ ứng với 24 đến 30 giờ học. Khối lượng học tập là khái niệm thời lượng trung bình một người học cần có để lĩnh hội được bài học yêu cầu.
Như vậy có thể thấy hệ thống này phân chia thành các mắt xích, mỗi chuyên ngành học giống như một công đoạn sản xuất. Sau khi trải qua một công đoạn, sản phẩm – kiến thức của sinh viên được kiểm định bằng bài kiểm tra, bài luận hoặc báo cáo. Chất lượng sản phẩm được đánh dấu (giỏi, khá, …) và được chuyến sang công đoạn tiếp theo nếu đạt. Tuy nhiên, các công đoạn sản xuất lại không xảy ra liền mạch mà xảy ra đồng thời và gối lên nhau, thể hiện tính phức tạp trong nghiệp vụ quản lý.
ECTS được thiết kế nhằm mục tiêu:
- Giúp sinh viên trong nước và và nước ngoài dễ dàng hiểu và so sánh các chương trình học.
- Tạo điều kiện trao đổi sinh viên và chuẩn hóa bằng cấp.
- Hỗ trợ các trường đại học tổ chức và rà soát các chương trình học.
- Dễ dàng thích nghi với nhiều chương trình và phương thức chuyển tiếp.
- Thu hút sinh viên từ các châu lục khác đến học tập tại châu Âu.
Hệ thống tín chỉ dựa trên độ dài chính thức của chương trình học. Tổng khối lượng học tập yêu cầu đối với giai đoạn 1 đại học kéo dài từ 3 đến 4 năm tương ứng với từ 180 đến 240 tín chỉ. Khối lượng học tập bao gồm thời gian nghe giảng, thảo luận chuyên đề, tự học, chuẩn bị và làm bài kiểm tra… và phân bổ thành nhiều cấp độ trong chương trình học như các nhóm ngành học, môn học, thực tập, luận văn… cũng như xác định khối lượng học tập mà mỗi cấp độ yêu cầu trong tổng thể khối lượng học tập của cả năm học chính khoá.
Các tài liệu trong hệ thống ECTS bao gồm:
- Hướng dẫn thông tin và tài liệu khoá học của trường, in bằng 2 thứ tiếng (hoặc chỉ bằng tiếng Anh nếu chương trình học bằng tiếng Anh) và có thể truy cập trên internet. Tài liệu này phải bao gồm cả thông tin tiếp nhận sinh viên nước ngoài.
- Thỏa thuận đào tạo bao gồm danh mục các khoá học được sự thông qua của sinh viên và người chịu trách nhiệm tại trường. Trong trường hợp chuyển tiếp tín chỉ, Thảo thuận này phải được sự thông qua của sinh viên và người phụ trách của cả hai trường trước khi sinh viên khởi hành và phải được cập nhật ngay khi có thay đổi.
- Bản sao hồ sơ kết quả học tập của sinh viên thông qua danh mục các khoá học đã tham gia, các tín chỉ đã đạt được cũng như văn bằng được trao theo hệ thống quốc gia cũng như theo ECTS. Trong trường hợp chuyển tiếp tín chỉ, Hồ sơ phải được trường sở tại cấp trước khi sinh viên khởi hành và được trường tiếp nhận cấp vào cuối chương trình học.
Cách tính điểm theo hệ thống ECTS:
Điểm quốc gia Điểm ECTS Loại Số SV cần đạt
16 – 20 A Xuất sắc 10%
14 – 16 B Rất tốt 25%
12 – 14 C Tốt 30%
10 – 12 D Khá tốt 25%
08 – 10 E TB 10%
06 – 08 F Kém 0%
00 – 06 G Rất kém 0%
Với việc bước đầu áp dụng hệ thống giáo dục mới LMD (Licence – Master – Doctorat), Pháp đã có những bước đi tích cực trong việc ứng dụng chuẩn mực giáo dục chung của châu Âu. Cải cách không chỉ thay đổi tên gọi, cấu trúc hệ thống mà còn thay đổi cả các khái niệm, định nghĩa chuyên ngành, chất lượng đào tạo và giá trị văn bằng gắn với những đơn vị tín chỉ mà sinh viên đạt được. Cải cách giáo dục còn là một bước tiến chính trị quan trọng của Pháp trong liên minh châu Âu. LMD giúp hệ thống giáo dục Pháp tương thích với chuẩn mực giáo dục chung cũng như giúp các sinh viên có thể dễ dàng học chuyển tiếp giữa các nước châu Âu.
Hệ thống giáo dục của Pháp sẽ chuyển từ DEUG (năm thứ 2), Licence (năm thứ 3), Maitrise (năm thứ 4), DESS, DEA (thạc sỹ), và Doctorat (tiến sỹ) thành hệ thống LMD dựa trên 3 cấp độ học vị Licence (cử nhân), Master (thạc sỹ) và Doctorat (tiến sỹ), còn gọi là hệ thống 3, 5, 8 ứng với số năm học sau trung học để đạt được 3 học vị đó. Cấp độ L cần đạt 180 tín chỉ, cấp độ M cần đạt thêm 120 tín chỉ khi đã có Licence. LMD thực sự sẽ làm thay đổi nền tảng hệ thống giáo dục của Pháp, được coi là một cuộc cách mạng giáo dục nhằm giúp sinh viên thích ứng thực sự với đời sống xã hội hiện mang tính quốc tế hoá rất cao.
Trong thời gian chuyển tiếp, DEUG và Maitrise sẽ vẫn được duy trì. Tại các trường đã áp dụng hệ thống mới (chẳng hạn như đại học Paris XI), sinh viên sau Licence có thể chọn lựa vào Master1 (Master năm thứ nhất, ngang với Maitrise trước kia). Bằng Master được chia thành các khối ngành (ví dụ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội…), các lĩnh vực (Master Luật, Master Quản lý công nghệ…), và các chuyên ngành (Luật hợp đồng, hay Quản lý mạng thông tin…). Các chuyên ngành sẽ được ghi rõ trên bằng M2. Trong các Master1 sẽ các định hướng lựa chọn hoặc bắt buộc để học tiếp M2. Thêm nữa, các bằng Master2 cũng sẽ ghi thêm là Master “nghiệp vụ” (định hướng đi làm sau khi tốt nghiệp) hoặc Master “nghiên cứu” (định hướng bảo vệ luận án tiến sỹ).
Just-In-Time, khái niệm sản xuất tức thời
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 30.06.2004
Chiến lược Just-In-Time (JIT) được gói gọn trong một câu: “đúng sản phẩm với đúng số lượng tại đúng nơi vào đúng thời điểm”. Trong sản xuất hay dịch vụ, mỗi công đoạn của quy trình sản xuất ra một số lượng đúng bằng số lượng mà công đoạn sản xuất tiếp theo cần tới. Các quy trình không tạo ra giá trị gia tăng phải bỏ. Điều này cũng đúng với giai đoạn cuối cùng của quy trình sản xuất, tức là hệ thống chỉ sản xuất ra cái mà khách hàng muốn.
Nói cách khác, JIT là hệ thống sản xuất trong đó các luồng nguyên vật liệu, hàng hoá và sản phẩm truyền vận trong quá trình sản xuất và phân phối được lập kế hoạch chi tiết từng bước sao cho quy trình tiếp theo có thể thực hiện ngay khi quy trình hiện thời chấm dứt. Qua đó, không có hạng mục nào rơi vào tình trạng để không, chờ xử lý, không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để có đầu vào vận hành.
Các dây truyền lắp ráp của hãng Ford đã áp dụng JIT từ những năm 30. Cần nói thêm rằng Ford là người đi đầu trong việc áp dựng các dây truyền sản xuất. Tuy nhiên, phải đến những năm 1970, quy trình sản xuất theo mô hình JIT mới được hoàn thiện và được Toyota Motors áp dụng. Trong công cuộc công nghiệp hoá sau Đại chiến thế giới thứ 2, nước Nhật thực hiện chiến lược nhập khẩu công nghệ nhằm tránh gánh nặng chi phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và tập trung vào việc cải thiện quy trình sản xuất (kaizen). Mục tiêu của chiến lược này là nâng cao chất lượng và độ tin cậy của sản phẩm. Eiji Toyoda và Taiichi Ohno của Toyota Motor đã phát triển một khái niệm hệ thống sản xuất mới, mà ngày nay được gọi là Hệ thống SX Toyota. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nước Nhật có được ngày hôm nay xuất phát từ nền tảng sản xuất dựa trên hệ thống tuyệt với đó.
Để thử cùng tìm hiểu JIT trong hệ thống sản xuất Toyota, trước hết cần phân biệt được hai khái niệm sản xuất truyền thống là tinh xảo (craft) và đại trà (mass). Sản xuất tinh xảo thường sử dụng các công nhân cực kỳ lành nghề cùng với những công cụ đơn giản nhưng linh hoạt (đặc biệt trong các ngành nghề thủ công) để tạo ra từng sản phẩm theo ý khách hàng. Chất lượng của hình thức sản xuất này có lẽ khỏi cần phải bàn, tuy nhiên giá thành dẫn tới giá bán rất cao là yếu tố làm thu hẹp thị trường. Cũng vì thế mà sản xuất đại trà đã ra đời, đánh dấu một bước phát triển trong sản xuất đầu thế kỷ 20.
Sản xuất đại trà sử dụng công nhân có tay nghề bậc trung vận hành các máy công nghiệp đơn năng, tạo ra các sản phẩm được tiêu chuẩn hoá với số lượng rất lớn. Vì giá trị máy móc cũng như chi phí tái thiết kế rất đắt tiền nên nhà sản xuất đại trà luôn cố gắng giữ các tiêu chuẩn thiết kế sản phẩm càng lâu càng tốt. Kết quả là giá thành kéo theo giá bán giảm. Tuy nhiên tác phong công nghiệp làm cho công nhân nhàm chán và mất động lực làm việc.
Toyota Motor đã kết hợp 2 phương thức sản xuất tinh xảo và đại trà, loại bỏ các yếu điểm về giá thành và sự chặt chẽ công nghiệp, cho ra đời một phương thức sản xuất mới với đội ngũ công nhân có tay nghề cao được trang bị hệ thống máy móc linh hoạt, đa năng, có khả năng sản xuất với nhiều mức công suất. Phương thức này được đánh giá là sử dụng ít nhân lực hơn, ít diện tích hơn, tạo ra ít phế phẩm hơn, và sản xuất được nhiều loại sản phẩm hơn hình thức sản xuất đại trà.
Nền tảng của hệ thống sản xuất Toyota dựa trên khả năng duy trì liên tục dòng sản phẩm trong các nhà máy nhằm thích ứng linh hoạt với các thay đổi của thị trường, chính là khái niệm JIT sau này. Dư thừa tồn kho và lao động được hạn chế tối đa, qua đó tăng năng suất và giảm chi phí. Bên cạnh đó, mặc dù khả năng giảm thiểu chi phí là yêu cầu hàng đầu của hệ thống, Toyota đã đưa ra 3 mục tiêu phụ nhằm đạt được mục tiêu chính yếu đó:
- Kiểm soát chất lượng: giúp cho hệ thống thích ứng hàng tháng hay thậm chí hàng ngày với sự thay đổi của thị trường về số lượng và độ đa dạng.
- Bảo đảm chất lượng: đảm bảo mỗi quy trình chỉ tạo ra các đơn vị sản phẩm tốt cho các quy trình tiếp theo.
- Tôn trọng con người: vì nguồn nhân lực phải chịu nhiều sức ép dưới nỗ lực giảm thiểu chi phí.
Trong quy trình lắp ráp ô tô, các linh kiện phải được các quy trình khác cung cấp đúng lúc với đúng số lượng cần thiết. Từ đó, tồn kho sẽ giảm đáng kể kéo theo việc giảm diện tích kho hàng. Kết quả là chi phí cho kho bãi được triệt tiêu, tăng tỷ suất hoàn vốn. Tuy nhiên, trong một ngành công nghiệp phức tạp như ngành ô tô, việc áp dụng JIT vào tất cả các quy trình là điều rất kho khăn. Toyota Motor đã thực hiện theo hướng ngược lại, tức là công nhân của quy trình sau sẽ tự động lấy các linh kiện cần thiết với số lượng cần thiết tại từng quy trình trước đó. Va như vậy, những gì mà công nhân quy trình trước phải làm là sản xuất cho đủ số linh kiện đã được lấy đi.
Kanban là một hệ thống thông tin nhằm kiểm soát số lượng linh kiện hay sản phẩm trong từng quy trình sản xuất. Mang nghĩa một nhãn hay một bảng hiệu, mỗi kanban được gắn với mỗi hộp linh kiện qua từng công đoạn lắp ráp. Mỗi công nhân của công đoạn này nhận linh kiện từ công đoạn trước đó phải để lại 1 kamban đánh dấu việc chuyển giao số lượng linh kiện cụ thể. Sau khi được điền đầy đủ từ tất cả các công đoạn trong dây truyền sản xuất, một kamban tương tự sẽ được gửi ngược lại vừa để lưu bản ghi công việc hoàn tất, vừa để yêu cầu linh kiện mới. Kanban qua đó đã kết hợp luồng đi của linh kiện với cấu thành của dây truyền lắp ráp, giảm thiểu độ dài quy trình.
Kanban được áp dụng với 2 hình thức:
- Thẻ rút (withdrawal kanban): chi tiết về chủng loại và số lượng sản phẩm mà quy trình sau sẽ rút từ quy trình trước.
- Thẻ đặt (production-ordering): chi tiết về chủng loại và số lượng sản phẩm mà quy trình sau phải sản xuất.
Sau Nhật, JIT được 2 chuyên gia TQM (Total Quality Manufacturing) la Deming và Juran phát triển ở Bắc Mỹ. Từ đó mô hình JIT lan rộng trên khắp thế giới. JIT là một triết lý sản xuất với mục tiêu triệt tiêu tất cả các nguồn gây hao phí, bao gồm cả tồn kho không cần thiết và phế liệu sản xuất. Tóm lại, JIT tạo ra các lợi điểm sau:
- Giảm các cấp độ tồn kho bán thành phẩm, thành phẩm và hàng hoá.
- Giảm không gian sử dụng.
- Tăng chất lượng sản phẩm, giảm phế liệu và sản phẩm lỗi.
- Giảm tổng thời gian sản xuất.
- Linh hoạt hơn trong việc thay đổi phức hệ sản xuất.
- Tận dụng sự tham gia của nhân công trong giải quyết vấn đề.
- Áp lực về quan hệ với khách hàng.
- Tăng năng suất và sử dụng thiết bị.
- Giảm nhu cầu về lao động gián tiếp.
Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ truyền thông thông tin, JIT đã trở thành khả năng cạnh tranh phải có đối với bất cứ doanh nghiệp nào.
________________
[1] Just In Time – Cecilia Lo, Michelle Provencher & Carol Yuen.
[2] The Toyota Production System – A Case Study of Creativity and Innovation in Automotive Engineering – R.Balakrishnan.
(Tổng hợp)
Tiêu chuẩn Trách nhiệm xã hội Social Accountability (SA) 8000
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 19.02.2004
SA 8000 được giới thiệu lần đầu năm 1997, phát triển dưới sự bảo trợ của CEPAA (Council on Economic Priorities Accreditation Agency) và một nhóm các tổ chức bao gồm: các tổ chức lao động, các tổ chức về quyền con người và quyền trẻ em, các học viện, nhà phân phối, nhà sản xuất, nhà thầu khoán, cũng các nhà tư vấn, kế toán và công ty kiểm định. http://www.sa-intl.org/Accreditation/CertifiedFacilities.htm
SA 8000 được thiết kế để trở thành tiêu chuẩn quốc tế có thể kiểm định. Trước hết, SA 8000 là tiêu chuẩn so sánh và đánh giá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Thứ đến, SA 8000 thúc đẩyviệc đảm bảo quyền cơ bản của người lao động trong doanh nghiệp. SA 8000 đặc biệt yêu cầu sự công khai trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.
CEPAA là cơ quan điều hành, nay được gọi là SAI (Social Accountability International), được quyền uỷ nhiệm cho các tổ chức kiểm định độc lập đánh giá và giám sát sự tuân thủ các tiêu chuẩn đề ra. Việc ủy nhiệm có giá trị trong vòng 3 năm, cùng với việc giám sát và kiểm định 6 tháng một lần. Các tổ chức kiểm định này được cung cấp tài liệu hướng dẫn và các khoá đào tạo chuyên môn.
Những công ty đáp ứng được tiêu chuẩn đề ra, sẽ được đăng ký bởi một tổ chức ủy nhiệm. Sau đó, công ty có quyền sử dụng nhãn chứng nhận SA 8000. Để được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn SA 8000, tất cả các cơ sở kinh doanh phải chấp nhận được kiểm định.
Sự chú ý của công chúng vào vấn đề nhân quyền và điều kiện lao động trong sản xuất ngày một gia tăng. Nhiều công ty nắm bắt được lợi ích của việc áp dụng các chuẩn mực đạo đức vào vận hành sản xuất, và họ đã đưa ra các quy tắc ứng xử riêng. Tuy nhiên, chưa có sự nhất trí về việc thiết lập một chính sách trách nhiệm xã hội cụ thể. Vì vậy mà các quy tắc đơn lẻ đó đều không tồn tại được lâu dài và không được giám sát chặt chẽ. Mục đích ra đời của SA 8000 là nhằm tạo ra một bộ quy tắc toàn cầu đối với điều kiện làm việc trong các ngành sản xuất, giúp cho người tiêu dùng ở các nước phát triển tin tưởng rằng hàng hoá mà họ mua và sử dụng, đặc biệt là quần áo, đồ chơi, mỹ phẩm, và đồ điện tử đã được sản xuất phù hợp với bộ tiêu chuẩn được công nhận.
SA 8000 cung cấp cho các công ty 2 phương thức thể hiện trách nhiệm xã hội
Phuơng thức thứ nhất – tư cách thành viên, được thiết kế dành cho các nhà phân phối. Ở đó các nhà phân phối cam kết chỉ quan hệ với những đối tác cung cấp có trách nhiệm xã hội. Thành viên của SA 8000 được cung cấp các công cụ (nguyên tắc và kỹ thuật) tự đánh giá, được hỗ trợ thực hiện các chính sách trách nhiệm xã hội. Họ cần thông báo với các nhà cung cấp về việc tuân theo tiêu chuẩn SA 8000 và đưa ra một thời hạn nhất định trước khi ngừng quan hệ với các đối tác không đáp ứng được các tiêu chuẩn đề ra.
Các công ty thành viên cũng được yêu cầu báo cáo chi tiết hàng năm về mục tiêu SA 8000 của mình cũng như trình bày sơ lược về những gì đã làm để đạt được những mục tiêu đó. Các báo cáo này sẽ được SAI kiểm tra.
Phương thức thứ hai – chứng nhận, dành cho các nhà sản xuất và nhà cung cấp. Quá trình thực hiện được bắt đầu từ khi công ty liên hệ với tổ chức kiểm định được uỷ nhiệm. Công ty sẽ được ghi vào danh sách đề nghị cấp chứng nhận SA 8000 (SA 8000 applicant) sau khi chứng minh được các hoạt động của mình có khả năng phù hợp với các điều khoản của SA 8000. Tiếp theo, công ty bắt đầu thực hiện chương trình SA 8000, được xem xét kỹ lưỡng bởi một quá trình kiểm định tiền đánh giá. Các khuyến nghị của tổ chức kiểm toán cần được thực hiện trước khi thực hiện đánh giá chính thức.
Trong quá trình đánh giá chính thức, công ty vẫn có cơ hội điều chỉnh và bổ sung nốt các mặt còn hạn chế trước đợt kiểm tra cuối cùng. Chứng nhận SA 8000 sẽ được cấp nếu các kiểm định viên chấp nhận tình trạng của công ty phù hợp với tiêu chuẩn. Chứng nhận được cấp có giá trị 3 năm.
SA 8000 gồm 9 nội dung cơ bản mà các công ty phải tuân theo với điều kiện phù hợp với pháp luật địa phương và với các điều khoản của SA 8000, dựa trên 12 hiệp ước của ILO (International Labor Organization), dựa trên Tuyên ngôn về Quyền con người, và hiệp ước về Quyền trẻ em của UN (United Nation). Các nội dung này bao gồm:
- Lao động trẻ em,
- Lao động cưỡng bức,
- Vệ sinh và an toàn,
- Tự do liên kết và thoả thuận tập thể,
- Không phân biệt đối xử,
- Kỷ luật lao động,
- Giờ làm việc,
- Thù lao lao động,
- Hệ thống quản lý.
Theo ước lượng, có khoảng 100 triệu trẻ em trên thế giới đang phải lao động hàng ngày. Đại bộ phận thuộc khu vực châu Á, châu Phi và Nam Mỹ. Áp dụng tiêu chuẩn SA 8000, công ty không được sử dụng lao động trẻ em. Thêm vào đó, các công ty phải cung cấp một môi trường làm việc vệ sinh và an toàn, tôn trọng quyền của người lao động trong việc tham gia công đoàn. Phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì: màu da, sắc tộc, quốc tịch, giới tính, tàn tật, hay nguồn gốc chính trị, đều không được phép. Cấm các hình phạt thể xác và lăng mạ. Các công ty đề nghị được cấp chứng nhận SA 8000 phải đảm bảo rằng các nhân viên của mình cũng như của các nhà cung cấp không làm việc quá 48 giờ, hoặc 6 ngày một tuần. Hơn nữa, thù lao lao động phải lớn hơn hoặc bằng mức thù lao tối thiểu của ngành hoặc do luật pháp quy định. Tiêu chí cuối cùng của SA 8000 đưa ra một cơ cấu và thủ tục quản lý cần thiết để đảm bảo rằng sự tuân thủ các tiêu chuẩn được liên tục rà soát.
Địa chỉ của SAI:
Social Accountability International
220 East 23rd Street, Suite 605, New York, NY 10010
Phone: 212-684-1414
Fax: 212-684-1515
info@sa-intl.org
Giới thiệu họ tiêu chuẩn quản lý môi trường ISO 14000
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 16.02.2004
Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, các doanh nghiệp không ngừng được kêu gọi thực hiện quản lý kinh tế, xã hội và môi trường một cách bền vững. Thực tế cho thấy quản lý tốt ba vấn đề trên tạo ra các lợi thế về tài chính, bảo hiểm, tiếp thị, v.v… ISO 14001 là một cấu trúc hệ thống quản lý môi trường (Environmental Management System – EMS) được công nhận trên toàn thế giới, có tác dụng hỗ trợ doanh nghịêp trong việc quản lý tốt các tác động của hoạt động sản xuất kinh doanh tới môi trường và thực hiện quản lý môi trường.
ISO 14001 được thiết kế linh hoạt để có thể áp dụng với bất kỳ mô hình tổ chức nào, cả trong khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước. ISO 14001 có thể tăng hiệu quả quản lý môi trường và tạo một thị trường ngày càng “xanh”. ISO 14001 cũng là xuất phát điểm của nhiều công ty muốn sử dụng các công cụ quản lý môi trường khác, được phát triển bởi ISO/TC 207. Ví dụ, ISO 14004 cung cấp các chỉ dẫn bổ sung và hướng dẫn hữu ích cho ISO 14001.
ISO 19011 – Environmental management systems auditing (kiểm định hệ thống quản lý môi trường): thông tin về hiệu quả của hệ thống quản lý môi trường. Một hệ thống EMS sẽ chỉ đem lại lợi ích tối đa nếu được áp dụng đúng. Kiểm định môi trường là những công cụ quan trọng trong việc đánh giá quá trình thiết lập và duy trì hệ thống EMS. Tiêu chuẩn kiểm định ISO 19011 cung cấp chỉ dẫn về các nguyên tắc kiểm định, quản lý các chương trình kiểm định, thực hiện kiểm định, và về trình độ của kiểm định viên. ISO 19011 thay thế ISO 14010, ISO 14011 và ISO 14012, là những thế hệ tiêu chuẩn đầu tiên của họ ISO 14000.
ISO 14020 – Environmental labels and declarations (chứng nhận và công bố nhãn hiệu môi trường): thông tin về các tiêu chí môi trường của sản phẩm. Truyền thông về các tiêu chí môi trường của sản phẩm và dịch vụ là một cách thức quan trọng trong việc sử dụng sức mạnh thị trường tác động tới cải thiện môi trường. Thông tin chính xác và đáng tin cậy tạo cơ sở cho khách hàng khi đưa ra quyết định mua hàng sáng suốt. ISO 14020 đưa ra nhiều phương pháp chứng nhận và công bố nhãn hiệu môi trường, bao gồm tự công bố hiệu quả môi trường, xin chứng nhận, và các thông tin môi trường mang tính định lượng về sản phẩm và dịch vụ.
ISO 14030 – Environmental performance evaluation (đánh giá hiệu quả môi trường): mô tả hiệu quả môi trường của tổ chức. Các doanh nghiệp áp dụng ISO 14001 hoàn toàn có thể tin vào khả năng tăng hiệu quả môi trường. ISO 14031 cung cấp chỉ dẫn về đánh giá hiệu quả môi trường. Tiêu chuẩn này cũng đưa ra các chỉ báo hiệu quả phù hợp với từng tiêu chí quản lý. Các thông tin này có thể được sử dụng làm cơ sở cho các báo cáo bên trong và bên ngoài doanh nghiệp về hiệu quả môi trường.
ISO 14040 – Life cycle assessment (đánh giá vòng đời): mô tả hiệu qủa môi trường của sản phẩm, ưu tiên các tiêu chí môi trường. ISO 14001 không chỉ đưa ra các tiêu chí môi trường của quá trình sản xuất mà của cả các sản phẩm và dịch vụ. Vì vậy, ISO/TC 207 đã phát triển các công cụ bổ sung nhằm hỗ trợ các tiêu chí này. Đánh giá vòng đời (Lyfe cycle assessment – LCA) là một công cụ xác định và đánh giá các tiêu chí môi truờng của sản phẩm và dịch vụ từ khi nguồn lực đầu vào được phân chia cho tới khi sản phẩm được hoàn thành, có tính đến chất thải và các sản phẩm phát sinh. ISO 14040 cung cấp chỉ dẫn về các nguyên tắc và việc thực hiện nghiên cứu LCA nhằm giúp doanh nghiệp giảm tác động tổng hợp của môi trường tới các sản phẩm và dịch vụ.
ISO 14062 – Design for environment (thiết kế cho môi trường): tăng hiệu quả môi trường của sản phẩm, kết hợp các tiêu chí môi trường vào thiết kế và phát triển.
ISO 14063 – Environmental communication (truyền thông môi trường): truyền thông về hiệu qủa môi trường.
ISO 14064 là một công cụ khác, cho phép được tính đến các tiêu chí môi trường khi thiết kế và phát triển sản phẩm.
Mặc dù các tiêu chuẩn trong họ ISO 14000 được thiết kế nhằm hỗ trợ lẫn nhau, chúng có thể được dùng một cách độc lập nhằm đạt được mục tiêu môi trường riêng.
Toàn bộ họ ISO 14000 cung cấp các công cụ quản lý cho doanh nghiệp nhằm kiểm soát các tiêu chí môi trường và tăng hiệu quả môi trường/ Các công cụ này cùng tạo ra những lợi ich kinh tế hữu hình, bao gồm:
- Giảm mức độ sử dụng nguyên vật liệu và các nguồn lực.
- Giảm tiêu thụ năng lượng.
- Tăng hiệu quả quy trình.
- Giảm chất thải loại và chi phí giải quyết.
- Sử dụng các nguồn lực tái thiết.
Gắn với từng lợi ích kinh tế kể trên là các lợi ích môi trường tương ứng. ISO 14000 qua đó góp phần vào các bộ phận cấu thành về kinh tế và môi trường đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Lợi ích kinh tế của ISO 14001
Hoạt động kinh doanh ngày nay không chỉ đơn thuần là bán bán sản phẩm hay dịch vụ cho khách hàng. Cùng với sự phát triển như vũ bão của thị trường mang tính toàn cầu, sự tồn tại một hệ thống quy tắc chung sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thương mại. Cùng một lúc, các quy tắc đó có thể áp dụng cho các công ty ở Nhật Bản hay Brazil như chúng được áp dụng ở Mỹ hay châu Âu.
ISO 14001 là một hệ thống có khả năng khơi nguồn và truyền cảm hứng sáng tạo cho tất cả các thành viên trong tổ chức, khuyến khích bảo vệ môi trường, gìn giữ tài nguyên và tăng hiệu quả hoạt động. Khi tất cả các thành viên của tổ chức đều phải thay đổi trong suy nghĩ sẽ kích thích sự sáng tạo trong đổi mới sản phẩm và dịch vụ. Đổi mới đóng vai trò dẫn xuất kinh tế cơ bản cho tăng trưởng kinh tế.
Hiệu quả đầu tư vào hệ thống ISO 14001 phụ thuộc vào các điều kiện:
- Trạng thái và mức độ phức tạp của hệ thống quản lý hiện thời.
- Vai trò của môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh có tính đến yếu tố thời gian: trong quá khứ, hiện tại, và tương lai.
- Số lượng và chất lượng các nguồn lực có khả năng khai thác, cả bên trong và bên ngoài.
- Mức độ sẵn sàng áp dụng, chẳng hạn như kinh nghiệm quản lý môi trường.
- Kiến thức, trình độ và khả năng của nhân sự có trách nhiệm liên quan tới quản lý môi trường và mối quan hệ của họ với nhân sự ở các bộ phận khác.
- Sự mong đợi của cổ đông liên quan tới hệ thống EMS.
- Điều kiện pháp lý hiện thời.
- Những đòi hỏi khác mà tổ chức hay doanh nghiệp cần thu được sự nhất trí.
- Mức độ xác thực cần thiết để có thể khẳng định doanh nghiệp đáp ứng được đòi hỏi của thị trường hoặc đáp ứng được mong đợi của các cổ đông.
Nước Anh và an toàn năng lượng điện
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 14.04.2004
Nước Anh được coi là nước châu Âu tiên phong trong việc cải cách ngành điện từ 1989 sau khi đưa ra Luật về sản xuất, phân phối và tiêu thụ điện năng. Với việc xoá bỏ độc quyền, các công ty sản xuất và phân phối điện được tư hữu hoá, nhiều tập đoàn công nghiệp lớn được tự do lựa chọn nhà cung cấp điện cho mình. Bên cạnh đó, điện năng được mua bán trên hệ thống giao dịch mới gọi là NETA (New Electricity Trading Arrangement).
Năng lượng là yếu tố thiết yếu của xã hội loài người. Gần 1/3 năng lượng trên thế giới được tiêu thụ dưới dạng điện năng. Hệ thống điện năng là chìa khoá cho sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Ở các nước tiên tiến, mà Anh quốc là một trong số đó, sử dụng điện năng gần như trở thành quyền của mỗi công dân. Điện năng cũng là nhiên liệu đầu vào của các ngành công nghiệp và dịch vụ, là một trong những yếu tố sống còn trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Thời gian gần đây, nhiều nước châu Âu trong đó có Anh quốc đang gặp phải khó khăn lớn về đảm bảo an toàn cung cấp điện. Bài viết này muốn cung cấp cho độc giả một số thông tin về sản xuất điện năng của nước Anh, một trong những cường quốc công nghiệp của thế giới.
Nước Anh được coi là nước châu Âu tiên phong trong việc cải cách ngành điện từ 1989 sau khi đưa ra Luật về sản xuất, phân phối và tiêu thụ điện năng. Với việc xoá bỏ độc quyền, các công ty sản xuất và phân phối điện được tư hữu hoá, nhiều tập đoàn công nghiệp lớn được tự do lựa chọn nhà cung cấp điện cho mình. Bên cạnh đó, điện năng được mua bán trên hệ thống giao dịch mới gọi là NETA (New Electricity Trading Arrangement). Kết quả của cải cách ngành điện là giá điện bán cho nhà phân phối đã giảm đáng kể, từ 30 tới 40%. Tuy nhiên, giá bán cho người tiêu dùng mới chỉ giảm khoảng 3%. Tình trạng này dẫn tới hiện tượng lỗ trong các công ty sản xuất điện mà điển hình là việc chính phủ Anh năm ngoái đã tuyên bố giúp đỡ British Energy, tập đoàn năng lượng nguyên tử hàng đầu của nước này, một khoản tín dụng 650 triệu bảng Anh.
Nhiệt điện là một trong những nguồn sản xuất điện chính trên thế giới. Các nhà máy nhiệt điện đun nước bằng than, chất đốt và khí đốt và sử dụng hơi nước sinh ra để quay tuốc bin phát điện. Sự cạn kiệt khí đốt ở Biển Bắc làm ngành công nghiệp năng lượng Anh quốc phải nhập khẩu năng lượng, theo đánh giá đến năm 2020 là 3/4 khí đốt, phần lớn là từ Na Uy và bên cạnh đó là Nga trong liên minh tiềm ẩn với Iran và Algeria. Cần nói thêm rằng hiện nay, châu Âu đang nhập 45% chất đốt từ Trung Đông và 41% khí đốt từ Nga. Tỷ lệ nhập khẩu chất đốt của châu Âu có thể lên tới 70 – 90% vào năm 2030.
Với hiệp định khung của Liên hợp quốc về thay đổi khí hậu (UNFCCC) với nghị đinh thư Kyoto, nước Anh đã chấp nhận giảm 8% khí thải độc hại (CO2, CH4, N2O) gây ra hiệu ứng nhà kính cho tới thời điểm 2008 – 2012 so với mức khí thải năm 1990. Bên cạnh đó, nước Anh cung cam kết với Uỷ ban chiến lược EU về việc giảm khí thải 12,5%. Chính phủ Anh đã buộc các công ty sản xuất điện thực hiện cam kết không sử dụng than hoá thạch (NFFO) trong đó đưa ra mức bắt buộc năng lượng sản xuất từ các nguồn có thể tái tạo. Mức bắt buộc này từ 3% năm 2003 sẽ tăng dần lên mức 10% nằm 2010. Như vậy, sẽ có nhiều nhà máy nhiệt điện, hiện nay đang chiếm 35% sản lượng điện của Anh, sẽ phải ngừng hoạt động từ năm 2008. Nước Anh đang nằm trong nguy cơ phụ thuộc năng lượng vào nước ngoài.
Giải pháp khả dĩ nhất của nước Anh, hiện nay là phát triển các nguồn năng lượng có thể tái tạo và năng lượng sạch. Các dạng năng lượng điện từ các nguồn có khả năng tái tạo mới chỉ chiếm vị trí rất khiêm tốn, hiện tại mới chỉ chiếm 3,86% sản lượng điện trong đó:
- Sinh học: 0,94% (735 MW)
- Sức gió: 0,83% (649 MW)
- Thuỷ điện: 2,03% (1579 MW)
- Thuỷ triều: 0,006% (0.5 MW)
- Mặt trời: 0,051% (4 MW)
(Theo DTI)
Tuy sản xuất năng lượng từ sức gió mới chỉ bằng 5% sản lượng của Đức, Anh quốc có tiềm năng rất lớn vì chịu rất nhiều luồng gió mạnh nhất châu Âu. Sản xuất điện từ sức gió của Anh hiện dẫn đầu trong các nguồn năng lượng sạch có thể tái tạo, Hiệp hội năng lượng sức gió Anh quốc (BWEA) có tới hơn 270 công ty thành viên là nơi cung cấp thông tin, thực hiện nghiên cứu phát triển công nghệ và vận động hành lang hỗ trợ cho ngành. Theo báo cáo của BWEA, chỉ cần sử dụng được 40% các nguồn năng lượng sức gió cũng có thể thừa bảo đảm nhu cầu năng lượng cho đất nước. Hiện nay, trên khắp nước Anh đã có khoảng 1000 tuốc bin sức gió đang hoạt động và cũng khoảng 1000 tuốc bin khác đang được xây dựng. Các nhà máy này cùng với các dự án sắp tới dự tính bảo đảm được 2,5% tổng nhu cầu quốc dân.
Năng lượng sức gió tuy nhiên lại mang tính không liên tục vì phụ thuộc vào cường độ gió từng thời điểm. Là một quốc đảo với 10 ngàn km bờ biển, Anh quốc hoàn toàn có khả năng tận dụng thuỷ triều và các dòng chảy dưới đáy đại dương để sản xuất điện. Thuỷ triều lên xuống đều đặn bởi tác dụng của lực hấp dẫn từ mặt trăng và mặt trời lên đại dương được xác định có khả năng cung cấp điện cho cả nước. Các dự án thí điểm năng lượng thuỷ triều đã được thực hiện thành công tại Milford Haven với sản lượng tiềm năng có thể lên tới 50MW. Công nghệ sử dụng dòng chảy ngầm cũng đã được thực hiện thành công ở bắc Scotland với dự án Stingray. Sử dụng đôi cánh ngang khổng lồ lên xuống theo dòng chảy ngầm, mỗi hệ thống Stingray dưới đáy biển có thể sản xuất 90KW và có thể kết nối hàng ngàn hệ thống với nhau. Kế hoạch sắp tới trong việc sử dụng đại dương để sản xuất điện hứa hẹn cung cấp 6% nhu cầu trong nước.
Có thể thấy rằng Anh quốc còn rất nhiều việc phải làm để có thể đảm bảo cung cấp điện năng quốc gia. Ngoài năng lượng nguyên tử, Anh quốc còn có thể tập trung nghiên cứu sản xuất năng lượng sạch từ than chất lượng cao. Than là nguồn năng lượng thiên nhiên lớn nhất của quốc đảo này. Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) cho biết từ nay tới năm 2020, 38% điện năng trên thế giới vẫn được sản xuất từ than. Các công nghệ than sạch (CCTs) sử dụng than dưới phuơng thức đáp ứng các đòi hỏi về độ bền vững của môi trường và kinh tế cũng như áp dụng các nguyên tắc về khí thải, nước thải và rác thải. Chính phủ Anh đã thực hiện chương trình công nghệ than sạch với việc hỗ trợ mạnh mẽ các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ than sạch, công nghệ khí hoá các vỉa than ngầm, cấp vốn và thúc đẩy liên kết giữa ngành năng lượng và các ngành công nghiệp khác.
Cùng với cam kết không sử dụng than hoá thạch (NFFO), chính phủ Anh cho phép các nhà sản xuất điện cộng thêm chi phí vào giá bán điện với mức giá tối đa được quy định thành văn bản luật và có hiệu lực tới hết năm 2007. Mỗi MWh sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo sẽ được cấp một chứng phiếu (ROCs). Các công ty phải bảo đảm số chứng phiếu theo tỷ lệ % sản lượng. Các chứng phiếu có thể được mua đi bán lại và được quản lý bởi một cơ quan chuyên trách (ANFP). Nếu không có đủ số chứng phiếu cần thiết, ngoài việc bị phạt, nhà sản xuất còn phải trả một khoản 30 bảng Anh cho mỗi MWh từ nguồn có thể tái tạo còn thiếu. Giá của ROCs đã lên tới 47 bảng Anh.
Để thúc đẩy sản xuất năng lượng có thể tái tạo, từ tháng 4 năm 2001, chính phủ Anh quốc cũng đưa ra một mức thuế thay đổi khí hậu (CCL) đối với các tổ chức kinh doanh sử dụng năng lượng (khí đốt, chất đốt, than, điện). Cụ thể hơn là 0,43 bảng Anh mỗi KWh điện và 1,17 bảng Anh mỗi kg than. Mục tiêu của việc ban hành mức thuế mới là nhằm giảm ít nhất 5 triệu tấn than sử dụng cho tới năm 2010. Các công ty sản xuất năng lượng từ nguồn có thể tái tạo và nguồn năng lượng sạch được miễn thuế này.
Có thể thấy rằng những nỗ lực của chính phủ Anh vẫn chưa đủ để đảm bảo an toàn năng lượng từ nay cho tới hết thập kỷ đầu của thế kỷ 21. Tuy nhiên những cam kết mà Anh manh dạn đưa ra trong việc bảo vệ môi trường khỏi hiệu ứng nhà kính được đánh giá rất cao, thể hiện trách nhiệm của một nước lớn đối với môi trường sống toàn cầu. Tiến triển về an toàn năng lượng của Anh sẽ là bài học lớn cho các quốc gia khác trên thế giới, nhất là các nước đang có tốc độ công nghiệp hoá nhanh hình thành nhu cầu năng lượng tiềm ẩn lớn.
———————————————————————————
Bài viết có sử dụng số liệu của Cục Thuơng mại Công nghiệp Anh (DTI)
và của Trường kỹ thuật điện Supelec (Pháp).
Thiết lập hệ thống rà soát kinh doanh qua internet
Trịnh Minh Giang
TBKTSG Số 31 | 29.07./2004
Trong tình báo kinh doanh, việc rà soát thị trường, rà soát công nghệ… được thực hiện trên nhiều kênh thông tin. Bài viết này nhằm gợi ý phương thức thiết lập hệ thống rà soát kinh doanh qua internet, một kênh thông tin ngày càng trở nên quan trọng với tốc độ phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và lưu lượng dữ liệu chuyển tải trên mạng internet đang thăng tiến với cấp số mũ.
Để khai thác tiềm năng thông tin trên internet, không chỉ cần những công cụ có thể tìm kiếm và phân loại thông tin mà đặc biệt phải có khả năng kiểm soát tính cập nhật của nguồn thông tin đó. Thông tin trên internet, nhất là trên các báo điện tử, thay đổi và cập nhật hàng ngày, thậm chí hàng giờ. Ngược lại nhiều thông mới được đăng tải có khi lại là những thông tin đã lỗi thời được sử dụng lại.
Khái niệm
Một hệ thống rà soát hỗn hợp bao gồm:
- Tập hợp thông tin trên internet.
- Các công cụ tìm kiếm, thu nhận, rà soát và xử lý thông tin (các công cụ thông minh).
- Người giám định thông tin.
Các công cụ thông minh rà soát các trang web và các nguồn thông tin đã được xác định từ trước, thông báo ngay khi tìm thấy thông tin mới có thể liên quan tới lĩnh vực kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, các công cụ này còn lâu mới đạt được khả năng chọn lọc thông tin hoàn chỉnh. Việc có sự tham gia của con người và giai đoạn chọn lọc thông tin vì vậy là tất yếu. Hệ thống rà soát hoạt động tốt hay không phụ thuộc vào mức độ tương tác khả năng hiệp đồng giữa 3 thực thể trên.
Tình báo kinh doanh hay rà soát thông tin trên internet thực sự là khái niệm mới đối với nhiều nhà quản trị. Để ứng dụng hiệu quả, doanh nghiệp không chỉ học cách sử dụng công nghệ thông tin mà còn phải thích nghi được với sự thay đổi về văn hoá doanh nghiệp và phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Tuy nhiên phương thức mới không có nghĩa là thực hiện một cuộc cách mạng thông tin trong doanh nghiệp. Hệ thống rà soát kinh doanh có thể thực hiện thông qua các công nghệ có sẵn của internet và intranet, việc mà doanh nghiệp phải làm là sử dụng các công nghệ đó sao cho có hiệu quả mà thôi.
Tình báo kinh doanh thông qua internet không xoá bỏ các hoạt động rà soát kinh doanh truyền thống khác của doanh nghiệp. Ngược lại, hệ thống rà soát kinh doanh qua internet bổ trợ cho toàn bộ hệ thống rà soát kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa, việc thực hiện một hệ thống qua internet có mức đầu tư rất thấp so với các hệ thống khác. Thứ nhất, nhiều thông tin trên internet được cung cấp miễn phí hoặc rất rẻ (so với các cơ sở dữ liệu thương mại, báo chuyên ngành, chi phí đi lại cho nhân viên…). Thứ hai, các công cụ thông minh thường có giá lắp đặt rất phải chăng. Chi phí lớn nhất có lẽ là việc xác định ban đầu các nguồn thông tin cần rà soát.
Các công cụ thông minh không chỉ tìm kiếm mà còn thông báo ngay khi tìm thấy thông tin quan trọng, sau đó lưu trữ vào máy tính hoặc đăng tải lên mạng nội bộ (intranet) của doanh nghiệp. Như vậy, các thông tin này có thể được tham khảo ngay cả khi hệ thống máy tính của doanh nghiệp đã ngắt khỏi internet, và thêm nữa, tốc độ đường truyền truy cập của mạng nội bộ thường nhanh hơn mạng internet rất nhiều.
Thiết lập hệ thống
Việc lắp đặt hệ thống rà soát thường do một công ty chuyên môn đảm nhận, thường là công ty tin học hoặc công ty tư vấn. Trước hết, doanh nghiệp cần thiết lập một bảng phân công công việc, nhằm hiểu rõ nhu cầu thật sự của mình, các thứ tự ưu tiên, các hoạt động cần rà soát (rà soát thị trường, rà soát công nghiệp, rà soát pháp lý, rà soát công nghệ, rà soát cạnh tranh,…), phạm vi địa lý cần rà soát (trong nước, quốc tế, khu vực, địa phương,…), phạm vi chuyên môn cần rà soát (sản phẩm, nguyên vật liệu, linh kiện,ểan phẩm thay thế,…), … Những câu hỏi ấy cần có một sự đầu tư thời gian nghiêm túc để có thể tối ưu hoá hệ thống được thiếp lập. 3 bước tiến hành thiếp lập hệ thống là:
- Đào tạo kỹ thuật và nhận thức. Tất cả những người sẽ sử dụng hệ thống đều nên được đào tạo về công nghệ internet và kỹ thuật tìm kiếm thông tin. Các khoá học không chỉ giúp cán bộ hiểu được tiềm năng thông tin của internet mà òcn phải chỉ ra các mặt còn hạn chế. Thông tin trên internet không phải lúc nào cũng có độ tin cậy cao.
- Tìm kiếm. Bước này tập hợp nền tảng của hệ thống, tức là các công cụ sử dụng trong việc rà soát thông tin. Bước này phải được thực hiện bởi các chuyên gia tìm kiếm thông tin (trong nội bộ doanh nghiệp hoặc thuê ngoài) nhằm tránh các hoạt động không có hiệu quả. Mục tiêu là thực hiện một chiến lược thích hợp trên cơ sở sử dụng các công cụ internet:
. Thư mục theo chủ đề. Các thư mục này (Yahoo, Nomade, …) có thể được coi là điểm bắt đầu của công việc rà soát. Các thư mục phân chia thông tin theo các ngành nghề, vị trí địa lý, hoạt động…
. Công cụ tìm kiếm. Thông qua các công cụ này (HotBot, Alta Vista, Google, …), có thể tìm được các thông tin ít công khai hơn, ít có mặt trên các portal thư mục lớn.
. Diễn đàn trực tuyến và trang web cá nhân. Bên cạnh các thông tin chính thức, có nhiều thông tin vệ tinh có thể thu nhận tại các trang web và diễn đàn trực tuyến của người tiêu dùng, nguời sưu tập, … Các thông tin này đôi lúc còn có giá hơn nhiều các thông tin chính thức và có khi bản thân các công ty cũng không nắm được. Để tìm các diễn đàn (forum) trực tuyến, có thể sử dụng công cụ Deja.
- Đăng tải. Sau khi các công cụ thông minh lưu dữ liệu vào máy tính, hệ thống cần một công cụ khác có thể phân loại và đánh số thứ tự cho thông tin nhằm dễ dàng tham khảo trên máy tính nội bộ công ty. Việc lựa chọn công cụ phụ thuộc vào bản chất của thông tin rà soát và vào số lượng người sẽ sử dụng thông tin. Một hệ thống với một máy tính tất nhiên không thể giống với hệ thống gồm 1000 máy tính.
Nhân viên rà soát và thiết bị tin học
Nếu doanh nghiệp đã có sẵn một bộ phận rà soát truyền thống (thường là các tập đoàn lớn), nhân viên rà soát internet cần gắn bó chặt chẽ với bộ phận này. Nhóm nhân viên lý tưởng nhất gồm 3 người:
- Chuyên gia tin học, có thể lắp đặt hạ tầng kỹ thuật cần thiết và sửa chữa được các trục trặc kỹ thuật.
- Chuyên gia tìm kiếm thông tin, có khả năng tối ưu hoá quá trình lựa chọn thông tin.
- Chuyên gia xử lý thông tin, có khả năng xây dựng và tổng hợp cơ sở dữ liệu từ internet và từ các nguồn truyền thống khác, đưa ra nội dung có ích cho hoạt động kinh doanh của công ty.
Theo 1 báo cáo của Bộ thương mại Mỹ (Tạp chí Challenge), cái gọi là “chiến tranh thông tin” cho tới năm 2005 sẽ đòi hỏi mỗi năm thêm 95.000 chuyên gia về xử lý thông tin và cơ sở dữ liệu.
Đối với các thiết bị tin học, yêu cầu đặt ra là nhanh để xử lý kịp thời dữ liệu thu thập, bền để không làm mất dữ liệu lưu trữ, lớn để đủ dung lượng chứa thông tin và dữ liệu lưu trữ. Điều kiện tiên quyết tất nhiên là một đường kết nối internet có tốc độ cao nhất có thể. Các công cụ thông minh có thể mua, tải về, và cập nhật các phiên bản mới nhất trên internet.
Internet đã làm thay đổi cuộc sống thường ngày của mỗi người cũng như công việc kinh doanh của mỗi công ty. Làm thế nào để biến sự thay đổi theo xu hướng chung đó trở thành lợi thế cạnh tranh và tạo nên giá trị gia tăng, điều đó phụ thuộc vào tầm nhìn của mỗi nhà quản lý.
Poweo và việc mở cửa thị trường điện nước Pháp
Trịnh Minh Giang
TBKTSG số 31 | 29.07.2004
(Theo Le Nouvel Economiste, BusinessWeek)
Saint Karl Coiffures, một công ty sở hữu hệ thống 160 tiệm cắt tóc tại Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, mỗi năm phải trả tới 6.000 đô-la Mỹ tiền điện cho một cửa hàng. Gần đây, Saint Karl đã mua điện của nhà phân phối khác là Poweo cho 90 tiệm cắt tóc của mình ở Pháp với giá thấp hơn Công ty quốc doanh EDF (Điện lực Pháp) khoảng 10%.
Saint Karl chính là loại khách hàng mà Charles Beigbeder, Giám đốc điều hành của Poweo, nhắm tới khi ông thành lập công ty vào đầu năm 2002 với vốn đầu tư ban đầu khoảng 2 triệu đô-la Mỹ. Vào thời điểm đó, Chính phủ Pháp tuyên bố sẽ mở cửa dần thị trường điện thương phẩm trị giá 18,5 tỉ đô-la Mỹ. Việc mở cửa này tạo cơ hội cho các công ty cung cấp điện mới thành lập với chi phí thấp có thể mua điện với giá sỉ từ lưới điện quốc gia để kinh doanh.
Xóa dần độc quyền
Và như vậy, các nhà độc quyền ở châu Âu bị buộc phải nhường sân, và nhiều doanh nhân mới giống như Beigbeder đã nhảy vào cuộc. Các doanh nhân này cho rằng khách hàng sẽ đến với họ nếu họ cung cấp cùng một loại hàng hóa và dịch vụ giống như các đại công ty, nhưng với giá rẻ hơn.
Cũng chính nhờ chiến lược này mà các hãng hàng không giá rẻ kiểu Ryanair hay EasyJet đã thành công khi cạnh tranh với các hãng hàng không quốc doanh hoạt động kém hiệu quả. Trên thị trường viễn thông, các công ty mới ra đời kiểu như Tele2 (Thụy Điển) hay Iliad (Pháp) cũng đã lấy bớt thị phần của các doanh nghiệp lớn, cồng kềnh, do bán dịch vụ với giá thấp và biết cách tiếp thị thông minh.
Trở lại với Poweo, đây là mô hình đã được thực hiện có hiệu quả ở Anh, quốc gia châu Âu đầu tiên thực hiện cải cách thị trường điện. Hiện nước này có khoảng 40 công ty chuyên bán điện với giá rẻ.
Đối với Pháp, Poweo là một trong những nhà cung cấp điện độc lập đầu tiên. Poweo có khoảng 2.400 khách hàng và hàng tuần kiếm thêm được 400 khách. Trong số khách hàng của công ty này, có cả tám đại siêu thị của Carrefour, chi nhánh tại Pháp của Công ty Alcoa, hệ thống phòng thí nghiệm dược phẩm Pfizer và ba đơn vị hành chính địa phương (với hai địa phương có trên 20.000 dân).
Giá thấp hơn quốc doanh
Tuy không phải chịu các khoản chi phí cố định như Công ty EDF, nhưng Poweo vẫn thực hiện chính sách kiểm soát chặt chẽ chi tiêu. Đơn giản là Poweo phải sử dụng điện và lưới truyền tải của EDF và tiền trả cho EDF đã chiếm tới 80% giá thành dịch vụ của Poweo. Và cũng vì thế, công ty chỉ có thể chào giá thấp hơn EDF 10%, mặc dù Beigbeder, Giám đốc điều hành Poweo, từng nghĩ rằng có thể bán điện với giá rẻ hơn nữa.
Thực hiện hiệp ước của Liên hiệp châu Âu ký năm 1996 về việc mở cửa thị trường điện, vào tháng 2-2002, Chính phủ Pháp đã cho phép các doanh nghiệp có mức tiêu thụ điện từ 6 GWh trở lên được phép tự do lựa chọn nhà cung cấp điện. Vào tháng 2 năm ngoái, mức giới hạn này đã được nâng lên 7 GWh. Lúc này Poweo đã chính thức hoạt động và giành được khách hàng đầu tiên là tập đoàn sản xuất thuốc lá của Pháp Altadis.
Và kể từ đầu tháng 7 này, mọi tổ chức và cá nhân cùng với các đơn vị hành chính địa phương, chiếm 62% thị trường tiêu thụ điện ở Pháp đã được tự do lựa chọn nhà cung cấp điện. Dự kiến, đến năm 2007, Pháp sẽ mở cửa 100% thị trường điện dân dụng cho các nhà đầu tư.
Cũng cần nói thêm rằng Chính phủ Pháp đang tìm cách tư hữu hóa EDF và đang phải đối mặt với khó khăn. Làn sóng phản đối trong nhân viên của EDF đã lên cao. Đỉnh điểm của làn sóng này là một cuộc bãi công và việc cắt điện cố ý trong suốt nhiều giờ ở một số vị trí quan trọng của thủ đô Paris trong thời gian gần đây.
Tiếp thị hỗn hợp
TRỊNH Minh Giang
vietmanagement.com | 2004
Tiếp thị hỗn hợp (Marketing Mix) là tập hợp các công cụ tiếp thị được doanh nghiệp sử dụng để đạt được trọng tâm tiếp thị trong thị trường mục tiêu. Các công cụ này được McCarthy phân loại thành 4 nhóm chính, 4Ps.
Mô hình 4Ps bao gồm:
- Sản phẩm (Product): tính đa dạng, chất lượng, thiết kế, chức năng, thương hiệu, đóng gói, kích thước, dịch vụ, bảo hành, hồi trả.
- Giá bán (Price): bảng giá, chiết khấu, tài trợ, trả chậm, tín dụng.
- Khuyến mãi (Promotion): giảm giá, quảng cáo, lực lượng bán hàng, quan hệ công cộng, tiếp thị trực tiếp.
- Phân phối (Place): kênh, phạm vi, phân hạng, vị trí, kho, vận tải.
Quyết định tiếp thị hỗn hợp tác động tới các kênh thương mại cũng như tới người tiêu dùng cuối cùng. Doanh nghiệp có thể thay đổi giá, lực lượng bán hàng, và chi tiêu quảng cáo trong ngắn hạn. Nhưng doanh nghiệp chỉ có thể phát triển sản phẩm mới và thay đổi kênh phân phối trong dài hạn.
Trên quan điểm nguời mua, 4Ps được thiết kế nhằm chuyển giao lợi ích cho khách hàng, theo Robert Lauterborn gồm 4Cs:
- Product: Customer Solution
- Price: Customer Cost
- Promotion: Communication
- Place: Convenience
Thị trường mục tiêu
Một nhà tiếp thị không thể làm thoả mãn được toàn bộ nhu cầu của thị trường. Vì vậy, công việc tiếp thị bắt đầu từ những phân đoạn thị trường. Nhà tiếp thị nhận dạng và phân loại các nhóm người mua khác nhau, những người có thể có nhu cầu về sản phẩm và tiếp thị hỗn hợp khác nhau. Các phân đoạn thị trường có thể được nhận dạng thông qua sự khác biệt về dân số học, về địa lý, tâm lý, về hành vi… giữa những người mua. Doanh nghiệp sau đó sẽ phải quyết định phân đoạn nào có nhiều tiềm năng nhất, hay nói cách khác, phân đoạn nào mà nhu cầu có thể được thoả mãn bởi sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp nhiều nhất.
Đối với mỗi thị truờng mục tiêu, doanh nghiệp phát triển một mức cung thị trường. Mức cung này thu hút nhận thức của người mua bằng một số lợi ích trung tâm. Ví dụ Volvo phát triển xe hơi nhằm vào thị trường mục tiêu gồm những khách hàng quan tâm tới phương tiện an toàn.
Thị trường, theo đúng nghĩa truyền thống, là một cái chợ, nơi người mua và người bán tới để trao đổi hàng hoá. Các nhà kinh tế học ngày nay mô tả thị trường như một tập hợp người mua và người bán giao dịch một sản phẩm đặc trưng. Còn các nhà tiếp thị nhìn người bán dưới góc độ cấu thành nên ngành và người mua dưới góc độ cấu thành nên thị trường.
Các doanh nhân thường sử dụng thuật ngữ “thị trường” để chỉ các nhóm khách hàng khác nhau: thị trường nhu cầu, thị trường sản phẩm, thị trường độ tuổi, thị trường giới tính, hay thị trường địa lý… hoặc có thể mở rộng ra như: thị trường cử tri, thị trường lao động,…
Kinh tế hiện đại phân biệt thị trường thành 5 loại: thị trường nhà sản xuất, thị trường nguồn lực, thị trường trung gian, thị trường tiêu dùng và thị trường chính phủ. Các nhà sản xuất mua đầu vào từ thị trường nguồn lực (nguyên liệu, lao động, tiền tệ…), biến chúng thành hàng hoá và dịch vụ đầu ra rồi bán cho thị trường trung gian. Các nhà trung gian sau đó bán lại sản phẩm cho thị trường tiêu dùng. Người tiêu dùng bán sức lao động của mình trên thị trường nguồn lực, dùng tiền được trả để trang trải các nhu cầu cá nhân thông qua việc mua hàng hoá và dịch vụ. Chính phủ thu thuế thu nhập để mua hàng hoá và dịch vụ từ 4 thị trường kia.
Mohan Sawhney đưa ra khái niệm siêu thị trường (metamarket) để chỉ một cụm các sản phẩm và dịch vụ bổ trợ có mối quan hệ mật thiệt trong nhận thức của người tiêu dùng nhưng lại thuộc các ngành khác nhau. Chẳng hạn siêu thị trường ô tô có thể bao gồm các nhàn sản xuất, nhà buôn xe ô tô cũ và mới, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, trung tâm cơ khí, nhà buôn linh kiện, cửa hàng dịch vụ, tạp chí xe hơi, quảng cáo, và internet… Để mua một chiếc xe hơi, người mua sẽ liên quan tới rất nhiều bộ phận trong siêu thị trường. Điều này tạo cơ hội cho các siêu trung gian (metamediary) có thể giúp khách hàng nắm bắt được các tập hợp, đặc biệt là thông qua internet.
Kênh tiếp thị
Nhà tiếp thị sử dụng các kênh truyền thông để truyền và nhận thông điệp từ người mua mục tiêu. Các kênh này bao gồm: báo, tạp chí, đài, ti vi, thư tín, điện thoại, bảng thông báo, tranh ảnh, tờ rơi, CD, băng cát sét và internet… Ngày nay các nhà tiếp thị ngày càng sử dụng nhiều các kênh đối thoại (email hay trung tâm tổng đài) ngang với các kênh đơn thoại (biển quảng cáo…).
Nhà tiếp thị sử dụng các kênh phân phối để thể hiện và chuyển giao các sản phẩm và dịch vụ tới người mua hay người sử dụng. Các kênh phân phối hữu hình và phân phối dịch vụ bao gồm kho hàng, thiết bị vận tải, và các kênh thương mại như các nhà phân phối, bán buôn, bán lẻ. Nhà tiếp thị cũng sử dụng các kênh bán hàng để thực hiện các giao dịch với khách hàng tiềm năng. Các kênh này không chỉ gồm nhà phân phối và nhà bán lẻ mà còn gồm các ngân hàng, công ty bảo hiểm có chức năng tạo thuận lợi cho giao dịch.
Chuỗi cung ứng
Trong khi các kênh phân phối kết nối nhà tiếp thị với người mua mục tiêu, chuỗi cung ứng mô tả một kênh dài hơn từ các nguyên liệu thô cho tới các sản phẩm cuối cùng chuyển cho người mua. Chuỗi cung ứng là một hệ thống chuyển giao giá trị. Mỗi công ty chỉ có thể nắm bắt được một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng giá trị được tạo ra bởi chuỗi cung ứng. Khi công ty muốn sát nhập hay mua lại một đối thủ cạnh tranh, một kênh đầu vào hay một kênh đầu ra, thực chất công ty đang ngắm tới một tỷ lệ phần trăm cao hơn.
Cạnh tranh
Cạnh tranh bao gồm mọi cung phẩm (offering) và sản phẩm thay thế mang tính cạnh tranh tiềm tàng mà người mua có thể nhận biết. Có 4 mức cạnh tranh dựa trên độ thay thế của của sản phẩm:
. Cạnh tranh thương hiệu: các đối thủ cạnh tranh cung cấp sản phẩm và dịch vụ tương tự cho cùng đối tượng khách hàng với mức giá tương đương. Ví dụ: Volswagen với Toyota, Honda, Renault… và các nhà sản xuất xe hơi trung lưu khác. Mercedes hay Huyndai sẽ không thuộc môi trường cạnh tranh này.
. Cạnh tranh ngành: đối thủ cạnh tranh là tất cả các công ty sản xuất cùng loại sản phẩm và dịch vụ. Volswagen lúc này sẽ coi tất cả các nhà sản xuất ô tô, bao gồm cả Mercedes hay Huyndai, là đối thủ cạnh tranh.
. Cạnh tranh hình thức: đối thủ cạnh tranh là các nhà sản xuất cung cấp cùng một dịch vụ. Volswagen không chỉ coi các nhà sản xuất xe hơi là đối thủ mà cả các nhà sản xuất xe gắn máy, xe đạp, xe tải…
. Cạnh tranh đặc tính: đối thủ cạnh tranh là các nhà sản xuất hàng hoá hay dịch vụ với giá bán tương đương. Volswagen coi các dịch vụ và sản phẩm có cùng giá với xe hơi của mình là đối thủ, chẳng hạn như nhà cửa, nghỉ hè…
Vốn lưu động và cân bằng tài chính
TRỊNH Minh Giang
vietmanagement.com | 16.03.2004
Cân bằng tài chính là là kết quả từ việc đối chiếu tính thanh khoản của những tài sản xác định các luồng thu về trong tương lai và tính tới hạn của những khoản nợ xác định các luồng chi ra trong tương lai. Nói cách khác, cân bằng tài chính được định nghĩa bởi sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn, bởi sự điều hoà giữa thời gian biến đổi tài sản thành tiền và nhịp độ hoàn trả các khoản nợ tới hạn. Vì vậy các số liệu về ngân quỹ và sự thay đổi ngân quỹ không thể chỉ báo chính xác các điều kiện cân bằng tài chính.
Xét về tổng thể, việc nắm giữ các tài sản dài hạn có tính thanh khoản thấp đòi hỏi nắm giữ các nguồn vốn lâu dài. Chính từ nhận định này mà nguyên tắc truyền thống của cân bằng tài chính là các tài sản cố định phải được tài trợ bởi các nguồn vốn dài hạn (vốn chủ sử hữu và vốn vay). Theo nguyên tắc này, cân bằng được duy trì bằng sự bù đắp của các luồng tiền (tương ứng với khấu hao tài sản cố định) với các khoản trả nợ (vốn và lãi) hàng năm. Tính ổn định của tài sản cũng như nguồn vốn không những đảm bảo sự cân bằng nhất thời mà còn duy trì được sự cân bằng về dài hạn. Phần trội của tổng nguồn vốn dài hạn so với tổng tài sản cố định được gọi là vốn lưu động, tạo thành một biên an toàn cho cân bằng tài chính.
Tuy nhiên, khả năng tài trợ cho tài sản cố định chưa đủ để đảm bảo cân bằng tài chính. Các tài sản lưu động khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng làm một phần nguồn vốn trở nên bất động nằm trong giá trị tồn kho và các khoản phải thu. Chênh lệch của tổng các khoản này với tổng các khoản phải trả tạo thành nhu cầu về vốn lưu động (sẽ được đề cập trong bài viết sau), luôn thay đổi theo nhịp độ sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ có được cân bằng tài chính khi vốn lưu động đủ khả năng bù đắp cho nhu cầu này.
Vốn lưu động, từ đó, được coi là một chỉ báo về khả năng thanh toán tại một thời điểm cũng như khả năng thanh toán trong tương lai. Vốn lưu động cũng là cầu nối giữa cân bằng tài chính dài hạn và ngắn hạn vì vậy mà việc tính toán chính xác vốn lưu động cũng tuỳ thuộc vào quan niệm của từng doanh nghiệp.
Vốn lưu động được tính = Vốn dài hạn – Tài sản cố định (1)
hoặc
Vốn lưu động được tính = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn (2)
Còn có thể đánh giá vốn lưu động thông qua tỷ lệ giữa:
Vốn dài hạn / Tài sản cố định = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
Nếu tỷ lệ này lớn hơn 1 (>1), vốn lưu động có giá giá trị dương và ngược lại.
Vốn lưu động chủ sở hữu là một phần của tổng vốn lưu động tạo nên bởi nguồn vốn chủ sở hữu sau khi thực hiện chia lợi nhuận cuối kỳ. Có thể tính thêm vốn lưu động chủ sở hữu qua phương trình:
Tài sản cố định + Tài sản lưu động = Vốn chủ sở hữu + Vốn lưu động chủ sở hữu + Nợ dài hạn + Nợ ngắn hạn
Vốn lưu động chủ sở hữu chứng tỏ mọi tài sản cố định đều đã được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu. Nói cách khác, đây là hình ảnh của việc các khoản đầu tư có độ rủi ro cao (dàn hạn) phải được tài trợ các cổ đông, hay người góp vốn, những người trên lý thuyết đóng vai trò chấp nhận rủi ro.
Khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi
TRỊNH Minh Giang
vietmanagement.com | 12.03.2004
Chức năng tài chính đảm nhận (1) việc giao dịch và ghi nhận các hoạt động tài chính, đặc biệt là trong quản lý ngân quỹ (chức năng vận hành). Bên cạnh đó, chức năng tài chính còn song song đảm nhận (2) việc hỗ trợ ban quản trị phản ứng và điều chỉnh các nguồn tài chính tuỳ theo nhu cầu, tuân thủ các đòi hỏi tài chính và cân đối mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp với mục tiêu của các cổ đông (chức năng hỗ trợ). Hai đòi hỏi tài chính cơ bản là khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi.
Mọi giao dịch kinh tế đều được thực hiện thông qua phương tiện trao đổi tiền tệ. Tuy nhiên, Việc nắm giữ tiền sẽ sinh ra chi phí. Doanh nghiệp vừa cùng lúc phải nắm giữ tiền vừa phải đảm bảo các khoản chi phí cho vốn cố định.
1. Khả năng thanh toán (solvency): khả năng bảo đảm trả được các khoản nợ đến hạn bất cứ lúc nào. Khả năng thanh toán là kết quả của sự cân bằng giữa các luồng thu và chi hay giữa nguồn vốn kinh tế (capital) và nguồn lực sẵn có (resource). Investopedia định nghĩa khả năng thanh toán “là khả năng đáp ứng các chi tiêu cố định trong dài hạn và có đủ lượng tiền cần thiết để mở rộng và phát triển”.
a. Cân bằng tài chính (financial equilibrium) có thể được xác định từ các luồng tài chính. Mọi luồng tài chính đều làm tăng hay giảm số tiền trong quỹ. Cân bằng tài chính đạt được tại thời điểm tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản như tiền mặt (gọi tắt là tiền mặt) vẫn “dương” sau khi đã đủ bù trả cho tất cả các khoản nợ đến hạn. Ba luồng tài chính chủ yếu quyết định cân bằng tài chính bao gồm:
- Chi phí đầu tư, chủ yếu là chi phí tạo vốn cho sản xuất,
- Số dư từ các hoạt động tài chính (vay, cho vay, hoàn trả),
- Thặng dư từ sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, phải tính thêm:
- Biến đổi tài sản có (kho và các khoản phải thu) và các khoản phải trả,
- Chi phí phân bổ giá trị thặng dư cho nhà nước, cho người lao động và cho các cổ đông.
- Các khoản nợ ngắn hạn, chủ yếu là tín dụng ngân hàng khi giá trị quỹ không đủ để duy trì cân bằng, tức là đảm bảo khả năng thanh toán các khoản chi bắt buộc.
Ngân quỹ được coi là “dương” nếu lớn hơn giá trị nợ và lớn hơn 0 (>0). Đây là một công cụ điều chỉnh các luồng thu và chi trong ngắn hạn. Sự mất cân bằng giữa tài sản có (actifs) và nguồn lực sẵn có tạo ra nhu cầu về tiền cần đáp ứng.
b. Mức độ tự chủ (autonomy) thể hiện khả năng duy trì tính độc lập của doanh nghiệp, Nếu nhu cầu về tiền của doanh nghiệp không thể được đáp ứng bằng hình thức vốn vay, nguy cơ mất cân bằng tài chính đòi hỏi phải được tài trợ dưới hình thức vốn góp. Rõ ràng lúc này, quyền quyết định sẽ được chia lại theo tỷ lệ góp vốn, doanh nghiệp mất quyền tự chủ. Khả năng mất cân bằng tài chính là yếu tố đo lường mức độ tự chủ của doanh nghiệp. Việc nắm giữ một lượng tiền mặt lớn có thể tăng mức độ tự chủ của doanh nghiệp nhưng số tiền này lại không tham gia vào quá trình sản xuất và không có khả năng sinh lợi.
Để đảm bảo tăng trưởng, doanh nghiệp có thể phải giảm tiền mặt nắm giữ và tăng lượng vốn vay, thậm chí chấp nhận giảm mức độ tự chủ. Nhiệm vụ của chức năng tài chính là dàn xếp vấn đề này bằng cách duy trì khả năng thanh toán. Vì vậy, chức năng tài chính phải kiểm soát được các quyết định sản xuất và thương mại làm thay đổi cấu trúc tài sản có (rủi ro kinh tế) và làm nảy sinh nhu cầu vốn mới (rủi ro tài chính).
2. Khả năng sinh lợi (profitability): là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Khả năng sinh lợi có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản.
Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ. Nhìn chung, khả năng sinh lợi cần ít nhất đủ để đáp ứng được hai đòi hỏi cấp bách:
- Đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp (đầu tư).
- Trả được các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay.
Lãi thu được từ các hoạt động sinh lợi trong năm tài khoá có thể được trích chia cho cổ đông hoặc vẫn duy trì dưới dạng vốn dự trữ (reserve). Nếu không tính tới thuế và lãi, khả năng sinh lợi của tài sản phải cho phép tích luỹ đủ tiền để đảm bảo vốn sản xuất kinh doanh, đảm bảo hoàn trả nợ, đóng góp vào việc tăng vốn và trả lợi nhuận đầu tư vốn cho các cổ đông.
Mọi quyết định và thay đổi về việc nắm giữ tài sản không chỉ làm nảy sinh vấn đề tài chính mà còn làm nảy sinh cả vấn đề sinh lợi. Nếu khả năng sinh lợi không đủ lớn, doanh nghiệp sẽ không đủ phương tiện để đáp ứng nhu cầu của nhiều yếu tố sản xuất kinh doanh khác nhau. Thặng dư khi đó sẽ không đủ để duy trì cân bằng tài chính.
Cần chú ý là khả năng sinh lợi của tài sản chỉ là một phần vấn đề nảy sinh từ khả năng sinh của các nguồn vốn thực hiện. Trên thực tế, rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp do các cổ đông gánh chịu. Lợi nhuận mà họ thu được không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của tài sản mà còn phụ thuộc vào chi phí đi vay. Yêu cầu về tỷ lệ sinh lợi tối thiểu phù hợp với khả năng bảo toàn vốn cho doanh nghiệp và trả lợi nhuận đầu tư vốn sẽ kết nối trước hết chức năng tài chính với mọi quyết định sử dụng tiền (tức là việc tạo hoặc thay đổi cấu trúc tài sản). Các kỹ thuật ước lượng và tính toán khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi sẽ được đề cập trong các bài viết sắp tới.
(Tổng hợp)
Một số khái niệm quản lý tài chính cơ bản
TRỊNH Minh Giang
vietmanagement.com | 23.02.2004
Lý thuyết tài chính được phát triển từ thập kỷ 70, khởi nguồn từ các phương thức tiếp cận pháp luật kế toán và kinh tế các luồng ngân khoản. Tuy nhiên phương thức tiếp cận này nhằm đưa ra một một cái nhìn từ bên ngoài, quan tâm tới các nguồn vốn tài chính của các cá nhân hay thể nhân góp vốn. Những đối tượng này nắm giữ các tài sản tài chính (actif financier), có thể một hoặc nhiều tài sản tạo thành danh mục tài sản tài chính (hay còn gọi là danh mục đầu tư).
Không phải doanh nghiệp mà là các yếu tố bên ngoài như thị trường hoặc các giao dịch trao đổi mua bán tài sản tài chính sẽ ảnh hưởng trực tiếp, hay thậm chí quyết định, tới việc quản lý tài sản tài chính. Các quyết định này có liên quan tới khả năng thanh toán (solvabilité) và khả năng sinh lợi (rentabilité).
Danh mục tài sản tài chính và thị trường tài chính
Lý thuyết tài chính doanh nghiệp là phần mở rộng theo khái niệm doanh nghiệp của các mô hình quản lý danh mục tài sản tài chính. Mảng tài chính doanh nghiệp được sinh ra từ sự cân bằng giữa tiền mặt và các tài sản công nghiệp (actif industriel), từ đòi hỏi tích lũy nguồn vốn sản xuất và tham gia trao đổi. Sự cân bằng này phát sinh ra tài sản tài chính của các nhà đầu tư tài chính và sinh ra vốn tài chính cho doanh nghiệp.
Tài sản tài chính là việc giữ một giá trị (réserve de valeur) cho phép nhận một khoản tiền (hoặc có tính thanh khoản như tiền) trong tương lai, hoặc khi kỳ hạn chấm dứt, hoặc khi bán lại tài sản đó cho bên thứ 3 một cách trực tiếp hay thông qua trung gian. Tài sản tài chính vừa chứa đựng tính rủi ro nhưng cũng vừa hứa hẹn một khoản lợi nhuận, một khả năng sinh lợi hay một giá trị thặng dư. Quản lý danh mục tài sản tài chính nhằm cân bằng giữa rủi ro và sinh lợi.
Tuy nhiên, tính thanh khoản và chuyển đổi của tài sản tài chính còn phụ thuộc vào sự tồn tại của thị trường mà ở đó người ta có thể trao đổi, mua bán các tài sản tài chính, cũng như phụ thuộc vào mức độ thanh khoản của thị trường này. Thị trường tài chính có chức năng tổ chức giao dịch và định giá các tài sản trao đổi trên thị trường. Các tham số định giá là các dự báo tương đối về khả năng sinh lợi và rủi ro của tài sản. Các dự báo này cố nhiên phụ thuộc khả năng nắm bắt thông tin trên thị trường, khái niệm này xác định hiệu quả thị trường (hoàn hảo hay không hoàn hảo).
Mục tiêu của quản lý danh mục tài sản tài chính là tối đa lợi nhuận. Vì vậy, nếu trong nguồn vốn của doanh nghiệp có một phần tài sản tài chính, doanh nghiệp cần tối đa giá trị của tài sản đó. Nhà quản lý tài chính có thể sử dụng phương pháp đánh giá các luồng ngân khoản (dòng tiền) trong việc lựa chọn hợp lý các khoản đầu tư. Lý thuyết này có 2 đặc điểm cơ bản là mục tiêu và đơn vị đo lường.
- Mục tiêu: tối đa lợi nhuận, được tính dựa trên giá trị thị trường của vốn cổ đông. Mục tiêu lợi nhuận không phải là một luồng thu ngân cũng không phải là tài sản tăng thêm trên danh nghĩa mà mà một giá trị thặng xác định được trên thị trường tài chính thông qua các hoạt động mua bán cổ phần.
- Đơn vị đo lường: dự vào lý thuyết chung về giá trị trên cơ sở các luồng tài chính kỳ vọng khi nắm giữ tài sản. Đặc điểm này giúp doanh nghiệp quyết định đầu tư, tức là quyết định nắm giữ một tài sản công nghiệp; giúp nhà quản lý danh mục đầu tư quyết định mua, giữ hay bán các tài sản tài chính, trái phiếu hay cổ phiếu.
Cổ phần thể hiện giá trị góp vốn của doanh nghiệp không chỉ là quyền thụ hưởng tài chính (vốn và lãi) mà còn là quyền tham gia bỏ phiếu, cơ sở của sự tổ chức quyền lực trong doanh nghiệp.
Chi phí vốn
Nguồn vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ là một khoản tiền bất động đối với các cổ đông góp vốn hay đối với những người cho vay. Nguời cho vay chỉ chấp nhận trao tiền khi có một khoản thu nhập được tính toán dưới hình thức lãi suất. Lãi suất hình thành nên chi phí nắm giữ nguồn vốn của doanh nghiệp. Cũng như vậy, nếu chi phí vay là kết quả của hợp đồng vay thì việc phân phối cổ tức phụ thuộc vào quyết định của các cổ đông góp vốn. Các chi phí này được coi là chi phí hiện (explicite), gọi là chi phí thực (coût réel).
Mặt khác, khi quyết định đầu tư hoặc cho vay đối với một doanh nghiệp hay một hoạt động kinh tế này tức là phải từ bỏ khả năng đầu tư hoặc cho vay đối với một doanh nghiệp hay một hoạt động kinh tế khác. Giá trị có khả năng đem lại của việc đầu tư hoặc cho vay đối với một doanh nghiệp hay một hoạt động kinh tế không thực hiện đó được coi là một chi phí ẩn (implicite), gọi là chi phí cơ hội (coût d’opportunité). Đây là một khái niệm trọng tâm của quản lý tài chính, là bước chuyển giữa doanh nghiệp và thị trường vốn được thiết lập bởi các chủ thể kinh tế và trung gian tài chính.
Chí phí vay: được đo bằng lãi suất, trước hết là biểu thức cân bằng cung và cầu tiền tệ. Sự đánh giá mức độ rủi ro của người đi vay và mức độ chấp nhận rủi ro của người cho vay tạo nên một khoản phí rủi ro cộng thêm vào lãi suất không có rủi ro trên thị trường. Chi phí vay là nguồn gốc của các điều khoản trong hợp đồng vay và lãi suất vay.
Giá trị thị trường của khoản nợ tại một thời điểm nhất định được tính bởi lãi suất trên thị trường tài chính. Ta có:
giá trị danh nghĩa x lãi suất thị trường = lãi vay
c x i = r
c = r x (1/i)
ở đó (1/i) là hệ số nhân để xác định giá trị nguồn vốn nếu biết trước lãi vay thực hiện, ở đây tính theo lãi suất trong hợp đồng. Như vậy, khi lãi suất thị trường thay đổi, hệ số nhân thay đổi và giá trị thị trường của tài sản tài chính (khoản nợ) sẽ khác với giá trị danh nghĩa. Nếu lãi suất thị trường lớn hơn lãi suất trong hợp đồng, giá trị của khoản nợ bị giảm và ngược lại.
Chi phí vốn tài chính: nguồn vốn góp của các cổ đông chứa đựng một độ rủi ro bởi doanh nghiệp không bắt buộc phải phân phối lợi nhuận cho dù kết quả của năm tài chính là dương. Mục tiêu cuối cùng của các nhà đầu tư tài chính là tăng giá trị khoản vốn đóng góp của mình dựa trên sự tăng giá trị tài sản và triển vọng phát triển của doanh nghiệp.
Nhà đầu tư vì thế đòi hỏi doanh nghiệp phải có một khả năng sinh lãi cao hơn mức độ rủi ro cũng như cao hơn lãi suất thị trường. khả năng này chính là tỷ suất tư bản hoá kết quả (tức là chuyển kết quả thành vốn, làm tăng đồng vốn bỏ ra). Ta có:
giá trị thị trường của nguồn vốn = lợi nhuận đầu tư x (1/tỷ suất tư bản hoá)
v = r x (1/i)
Chi phí bình quân gia quyền
Việc huy động vốn cho doanh nghiệp là sự kết hợp giữa các nguồn vốn góp, dự trữ cộng dồn và các khoản vay. Vì vậy, có thể tính một chí phí bình quân gia quyền từ các phần tương ứng với mỗi phương thức huy động mà doanh nghiệp sử dụng. Chi phí này bằng tổng của:
+ Chi phí vốn chủ sở hữu (%) x phần tương ứng (từ 0 tới 1)
+ Chi phí vay (%) x phần tương ứng (từ 0 tới 1)
Sự khác biệt giữa khả năng sinh lợi của tài sản và chi phí huy động vốn tạo ra hiệu ứng đòn bẩy của khoản nợ (l’effet de levier de l’endettement). Ta có:
Tài sản = Vốn chủ sở hữu + Nợ
A = C + E
với khả năng sinh lợi (r), chi phí (i) để vay khoản nợ E, có:
A (r) = C (r) + E (r) – E (i)
A (r) = C (r) + E (r – i)
E (r-i) = A (r) – C (r)
Hiệu ứng đòn bẩy tài chính là hiệu giữa khả năng sinh lợi của tài sản (A) và khả năng sinh lợi của nguồn vốn chủ sở hữu (C). Nếu giá trị này dương, việc huy động vốn vay cho phép tăng khả năng sinh lợi (r) của nguồn vốn chủ sở hữu. Ngược lại, nếu khả năng sinh lợi của tài sản (khả năng sinh lợi kinh tế) nhỏ hơn chi phí vay (i) (không thể bù đắp chi phí cố định phải trả cho khoản vay), hiệu ứng đòn bẩy sẽ có tác động tiêu cực. Hơn nữa, trên nguyên tắc, việc huy động vốn vay cũng tăng rủi ro cho nguồn vốn chủ sở hữu.
Lý thuyết chung về giá trị
Mỗi khoản đầu tư ban đầu tại thời điểm t0 được thực hiện với hy vọng có được khoản thu trong các giai đoạn liên tiếp (ví dụ niên khoản…) và một giá trị còn lại tn (valeur résiduelle) có thể thanh lý vào cuối kỳ hạn quy định.
Toán tài chính chỉ ra rằng khoản đầu tư ban đầu (I) tại thời điểm t0, với lãi suất năm (i), sau 1 năm sẽ có giá trị là:
I + I (i) = I (1+i)
sau (n) năm có giá trị:
I (1+ i)n
I được gọi là giá trị hiện tại (valeur actuelle) và
I(1+i)n được gọi là giá trị có được (valeur acquise) sau n giai đoạn.
Hệ số (1 + i)-n gọi là hệ số quy đổi về hiện tại (facteur d’actualisation), từ giá trị ở thời điểm tn về giá trị hiện tại ở thời điểm to.
Tựu chung, để định giá trị một tài sản tại một thời điểm xác định, cần biết hoặc ước tính được dãy niên khoản kỳ vọng, giá trị còn lại, và lựa chọn một lãi suất hay một hệ số quy đổi hiện tại. Giá trị hiện tại thuần (value actuelle nette) bằng tổng các niên khoản tính theo hệ số quy đổi hiện tại. Nếu thay giá trị hiện tại bằng khoản đầu tư ban đầu, lãi suất để khoản đầu tư này bằng với tổng các niên khoản đã quy đổi về hiện tại gọi là tỷ suất nội hoàn (taux interne de rentabilité).
Nắm bắt được các lý thuyết cơ bản trên giúp cho nguời đọc có thể nhanh chóng tiếp thu các kiến thức cung cấp ở những bài viết tiếp theo về tài chính doanh nghiệp. Các lý thuyết này còn là cơ sở tư duy cho nhiều quyết định kinh tế và là kiến thức quan trọng đối với các chuyên ngành quản lý kinh tế khác.
(Tổng hợp)
Phác họa về kế toán quản trị
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 06.09.2004
Những dòng này có thể cần thiết cho các nhà quản trị trước khi đi sâu tìm hiểu nội dung của kế toán quản trị cùng với những lợi ích mà chuyên môn này đem lại cho hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức. “Người quản lý phải hiểu quyết định của mình có ảnh hưởng thế nào đối với chi phí nếu muốn ra quyết định sáng suốt.” Người quản lý phải nắm bắt được các khái niệm và các kỹ năng cần thiết để sử dụng thông tin kế toán cho việc ra quyết định. Cần chú ý là ghi nhớ các khái niệm, hay bản chất, quan trọng hơn việc nắm bắt kỹ năng.
Hệ thống kế toán:
Hệ thống kế toán là một cơ chế chính thức có chức năng thu thập, tổ chức và chuyển giao thông tin về các hoạt động của doanh nghiệp. Hệ thống kế toán tài chính với với chức năng công khai thông tin được chuẩn hoá bởi quy định của nhà nước. Ngược lại, hệ thống kế toán quản trị nội bộ không bị kiểm soát mà phụ thuộc vào nhu cầu của ban quản trị.
Những người sử dụng thông tin kế toán bao gồm:
- Các đối tác bên ngoài như nhà đầu tư hay chính phủ cần thông tin kế toán tài chính để ra các quyết định đối với công ty.
- Những người điều hành công ty chịu trách nhiệm lập kế hoạch ngắn hạn và kiểm soát các hoạt động thường nhật và những người đứng đầu công ty chịu trách nhiệm quyết định các chính sách, chiến lược dài hạn hoặc không mang tính thường nhật như: đầu tư thiết bị, định giá sản phẩm và dịch vụ, lựa chọn sản phẩm cần chú trọng… của công ty. Thông tin họ cần là kế toán quản trị.
Như vậy, có thể định nghĩa “kế toán quản trị” là quá trình xác định, đo lường, tổng hợp, phân tích, chuẩn bị, giải thích và chuyển giao thông tin giúp cho những người điều hành kinh doanh đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Kế toán quản trị đi sâu phân tích các luồng thông tin kế toán trong chuỗi giá trị của tổ chức kinh doanh. Chuỗi giá trị được hiểu là chuỗi các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Các hoạt động này có thể bao gồm:
- Nghiên cứu & phát triển.
- Thiết kế.
- Sản xuất.
- Tiếp thị.
- Phân phối bán.
- Dịch vụ khách hàng.
- …
Nhà quản lý cần nắm bắt hoạt động nào đem lại lợi ích, hoạt động nào đang duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể tập trung vào mắt xích đó để phát triển, đồng thời tìm cách khắc phục hoặc tối ưu hoá các mắt xích còn lại. Với khả năng cung cấp được thông tin về chi phí và lợi nhuận thu được từ từng mắt xích, kế toán quản trị sẽ rất hữu ích trong việc kiểm soát chi phí sản xuất và vòng đời của sản phẩm cũng như hiệu quả của từng hoạt động. Cần chú ý rằng việc kiểm soát chi phí còn mang định hướng khách hàng. Quyết định giảm chi phí sản xuất phải dựa trên khả năng giảm giá thành và tăng tiện ích cho khách hàng.
(Biên tập)
Hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com |2004
So với các phương pháp truyền thống, phương pháp ABC (Activity-Based Costing) trước hết quy tập toàn bộ chi phí gián tiếp (các chi phí khác chi phí nguyên liệu trực tiếp, và chi phí lao động trực tiếp) đối với mỗi hoạt động của tổ chức, sau đó phân bổ các chi phí theo hoạt động này vào từng sản phẩm, dịch vụ, hay vào các đối tượng tạo ra hoạt động đó, thông qua các kích tố chi phí (cost driver).
Trong phương pháp truyền thống, tỷ lệ tổng chi phí gián tiếp phân bổ vào thành phẩm thường phụ thuộc vào tỷ lệ của tổng số giờ lao động trực tiếp cần có để làm ra thành phẩm đó. Còn trong ABC, các hoạt động gián tiếp đáng chú ý (như chạy máy, lắp ráp, kiểm tra chất lượng,…) được xác định bởi giám đốc vận hành. Sau đó, chi phí cho các nguồn lực gián tiếp đã tiêu dùng để thực hiện các hoạt động đó sẽ được truy nguyên theo hoạt động thông qua kích tố chi phí thích hợp. Cuối cùng, tập hợp các chi phí của từng hoạt động sẽ được phân bổ tiếp về các thành phẩm thông qua các kích tố chi phí hợp lý khác. Nói một cách hình tượng hơn, hệ thống ABC xé nhỏ chiếc bánh chi phí gián tiếp thành các mẩu bánh tương ứng với mỗi hoạt động nhất định.
Đến đây, có lẽ các bạn vẫn cảm thấy khá mông lung về ABC. Một ví dụ có lẽ sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề. Từ những năm cuối của thập kỷ 80, công ty Elgin Sweeper của Bắc Mỹ đã áp dụng ABC như sau:
- Bước đầu tiên là nghiên cứu các hoạt động tạo phí, lập danh sách các đơn vị tính phí có thể, cho mỗi hoạt động. Các đơn vị tính phí của Elgin bao gồm: tiền công lao động ($), giờ lao động, số lượng hàng gửi đi, số lượng thành phẩm, số đơn đặt hàng, doanh thu, ngày làm việc, thông báo thay đổi kỹ thuật, thời gian lao động kỹ thuật,… Các chi phí thay đổi với từng đơn vị tính phí được nhận dạng và tính toán.
- Tiếp theo, Elgin thiết lập báo cáo về dây truyền sản xuất cho phép đánh giá hiệu quả của các quyết định phân bổ nguồn lực. Kết quả của việc áp dụng hệ thống xác lập chi phí là sự tham gia của các giám đốc sản xuất vào việc nhận dạng kích tố chi phí và sự xoá bỏ các hoạt động không tạo ra giá trị gia tăng.
Gợi ý các bước xác lập hệ thống ABC:
1. Xác định các đối tượng tạo phí, các hoạt động, nguồn lực, và kích tố chi phí liên quan. Công việc này cần có sự giúp đỡ của các nhân viên chuyên môn. Kích tố chi phí được chọn dựa trên 2 tiêu chí:
- Quan hệ nhân quả hợp lý giữa kích tố chi phí và lượng tiêu hao nguồn lực.
- Dữ liệu về kích tố chi phí có thê thu thập được.
2. Phát triển một sơ đồ quá trình, biểu thị các luồng hoạt động, nguồn lực và mối quan hệ qua lại giữa chúng. Việc xác định mối quan hệ qua lại là một bước rất quan trọng, rất cần thiết thông qua các nhân viên chuyên môn.
3. Thu thập dữ liệu liên quan tới chi phí và các luồng kích tố chi phí hữu hình giữa các nguồn lực và các hoạt động. Thông qua chỉ dẫn của sơ đồ đã lập, kế toán viên có thể thu thập được thông tin về các chi phí cần thiết và các dự liệu vận hành. Các nguồn dữ liệu có thể là các bản ghi kế toán, nghiên cứu đặc biệt, phỏng vấn, và ước tính của các giám đốc vận hành.
4. Tính toán và diễn dịch các thông tin mới dựa trên hoạt động.
Có thể thấy rằng, phương pháp ABC có thể biến một chi phí gián tiếp thành một chi phí trực tiếp với một đối tượng tạo phí xác định. Việc lựa chọn các hoạt động và kích tố chi phí hợp lý cho phép các nhà quản lý truy nguyên nhiều chi phí gián tiếp như họ đã làm với chi phí nguyên liệu trực tiếp hay chi phí lao động trực tiếp. Vì xác định được nhiều chi phí trực tiếp hơn so với cách thức truyền thống, ABC giúp nhà quản lý có được những báo cáo về chi phí sản phẩm và dịch vụ với độ tin cậy cao hơn nhiều.
Phương pháp ABC phức tạp và tất nhiên là tốn kém hơn các phương pháp truyền thống, vì vậy không phải bất cứ công ty nào cũng đủ điều kiện áp dụng. Tuy nhiên, ABC sẽ là xu hướng tất yếu đối với quản trị bởi:
- Năng lực cạnh tranh dựa trên chi phí giảm thiểu đòi hỏi phải có những số liệu chính xác hơn về chi phí, tránh tình trạng lợi nhuận giả tạo.
- Sự đa dạng hoá ngày một tăng của các sản phẩm và dịch vụ cùng với độ phức tạp của các phân đoạn thị trường. Vì thế, việc tiêu dùng các nguồn lực cũng sẽ thay đổi theo các sản phẩm và dịch vụ.
- Chu kỳ sống của sản phẩm trở nên ngắn hơn do tốc độ phát triển của công nghệ làm công ty không đủ thời gian điều chỉnh giá cả và chi phí.
- Xác định đúng chi phí là một phần quan trọng của việc ra quyết định kinh doanh. Thiếu nó, sự chuẩn xác của quyết định sẽ giảm thiểu.
- Cách mạng trong công nghệ máy tính đã làm giảm được chi phí về tiền bạc lẫn thời gian cho việc phát triển và vận hành hệ thống xác lập chi phí có khả năng truy nguyên nhiều hoạt động.
Hệ thống quản lý chi phí
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com |2004
Chuyên viên kế toán chi phí (kế toán quản trị) phải hiểu được ý nghĩa của những con số, liên hệ chúng với các hoạt động kinh doanh và đưa ra những giải pháp thay thế. Sau cùng các giải pháp thay thế này phải được đánh giá và lựa chọn nhằm tối ưu hoá hiệu quả kinh doanh.
Về hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động ABC (Activity-Based Costing), phương châm của Hewlett-Pakard là: “Các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật cần thường xuyên thông qua kế toán để tìm mẫu thiết kế của sản phẩm có chi phí tối ưu… Nhân viên kế toán vì vậy đã tham gia vào quá trình quyết định mẫu thiết kế của sản phẩm. Họ giúp các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật hiểu được chi phí được phát sinh từ đâu… Hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động đã làm cho nghề kế toán trở nên có ý nghĩa hơn”.
Hệ thống kế toán chi phí bao gồm 2 bước:
Quy tập chi phí: thu thập các thông tin về chi phí thông qua phân loại dựa vào bản chất, ví dụ như chi phí lao động, chi phí nguyên liệu…
Phân bổ chi phí: truy nguyên và phân bổ lại chi phí vào một hay nhiều đối tượng tạo phí như các hoạt động, các phòng ban, khách hàng, hay các sản phẩm…
Thông qua hai bước này, nhà quản lý mới có thể nắm bắt được chính xác đối tượng chi phí, biết được cụ thể bộ phận, khâu nào gây lỗ hay không sinh lãi. Chẳng hạn trong một nhà máy sản xuất đồ dùng văn phòng, chi phí nguyên liệu, sau khi tổng hợp, được phân bổ lại về các đối tượng chi phí như bộ phận điều hành máy và bộ phận hoàn thiện. Chi phí từ các bộ phận này lại được phân bổ vào các sản phẩm như bàn, ghế, tủ sách…
Tới đây, chúng ta có thể đi sâu tìm hiểu cách thức phân loại để sau đó quy tập chi phí. Chi phí có thể được định nghĩa như một sự tiêu hao nguồn lực cho một mục đích nhất định, thường được quy ra đơn vị tiền tệ phải trả để có được nguồn lực đó. Như đã biết chi phí có thể được phân loại thông qua tính chất cố định hay biến đổi, hỗn hợp hay phân bậc.
Chi phí trực tiếp và gián tiếp
Để đưa ra quyết định kinh doanh, người quản lý phải nắm được chi phí của một vật, một quá trình hay một công việc nào đó gọi chung là đối tượng tạo phí (cost objective), chẳng hạn như các bộ phận phòng ban, các sản phẩm, đất đai, quãng đường, hay thậm chí số giờ giảng dạy… cũng như phải nắm được chi phí có mối quan hệ trực tiếp với đối tượng tạo phí hay không. Ví dụ, lương của nhân viên quản lý là chi phí trực tiếp nếu bộ phận của nhân viên này được coi đối tượng tạo phí, và là chi phí gián tiếp nếu sản phẩm hay dịch vụ của bộ phận đó được coi là đối tượng tạo phí. Cụ thể hơn, chi phí trực tiếp là chi phí có thể dễ dàng nhận dạng với một đối tượng tạo phí cho trước và ngược lại, chi phí gián tiếp là chi phí không thể dễ dàng nhận dạng với một đối tượng tạo phí cho trước.
Cần phải nhắc tới một khái niệm quan trọng khác là khái niệm tổng chi phí gián tiếp (factory overhead, factory burden hoặc manufacturing overhead), chỉ những chi phí không thể dễ dàng nhận dạng với đối tượng tạo phí là sản phẩm hay dịch vụ đầu ra. Các chi phí này có thể là năng lượng, lao động gián tiếp, lương quản lý, thuế bất động sản, chi phí thuê, bảo hiểm và khấu hao… Có một cách tương đối để phân biệt là chi phí này bao gồm các chi phí ngoài chi phí nguyên liệu trực tiếp và chi phí lao động trực tiếp.
Báo cáo thu nhập theo chi phí: một ví dụ về báo cáo thu nhập của một công ty sản xuất
+ Doanh thu
_ Chi phí thành phẩm đã bán gồm:
+ Kho thành phẩm đầu kỳ
+ Chi phí thành phẩm gồm:
+ Chi phí nguyên liệu đã dùng
+ Chi phí nhân công
+ Tổng chi phí gián tiếp
_ Kho thành phẩm cuối kỳ
= Lợi nhuận gộp
_ Các chi phí khác gồm:
+ Chi phí bán
+ Chi phí quản lý chung
= Thu nhập hoạt động
Tuỳ theo mục đích quản lý, báo cáo thu nhập trên có thể phân tách chi phí gián tiếp thành các chi phí cố định và biến đổi, phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh nhất định.
Hệ thống quản lý chi phí xác định việc nhà quản lý ra quyết định tác động tới chi phí bằng cách đo lường các nguồn lực được sử dụng để thực hiện các hoạt động của tổ chức và sau đó đánh giá tác động của sự thay đổi các hoạt động lên chi phí. Quản lý dựa trên hoạt động (ABM) sử dụng hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động (ABC) để cải thiện quá trình vận hành của tổ chức. ABM phân biệt các chi phí gia tăng giá trị và các chi phí không gia tăng giá trị. Chi phí gia tăng giá trị là chi phí cần thiết cho một hoạt động không thể xoá bỏ mà không ảnh hưởng tới giá trị của sản phẩm đối với khách hàng. Ngược lại, chi phí không gia tăng giá trị là chi phí có thể xoá bỏ mà không ảnh hưởng tới giá trị của sản phẩm đối với khách hàng (ví dụ chi phí kiểm soát kho hàng, vận chuyển bến bãi…). Như vậy để đạt được một chiến lược cạnh tranh bằng chi phí, doanh nghiệp cần xem xét cấu trúc của các chi phí không gia tăng giá trị.
Hệ thống JIT (Just-In-Time)
Để tối thiểu hóa chi phí không gia tăng giá trị, nhiều công ty áp dụng hệ thống JIT, hệ thống trong đó công ty mua nguyên vật liệu và sản xuất các bộ phận cấu thành sản phẩm ngay khi chu trình sản xuất cần tới chúng, nhằm giảm tồn kho tới mức thấp nhất có thể vì chi phí kho hàng là chi phí không gia tăng giá trị rất lớn. Thông qua JIT, công ty có thể chống lãnh phí và cải thiện chất lượng.
Các công ty áp dụng JIT đều mang định hướng khách hàng vì các đơn đặt hàng tạo ra chu trình sản xuất. Thay cho việc nhập kho các thành phẩm và đợi đơn đặt hàng, hệ thống JIT sản xuất các sản phẩm trực tiếp theo các đơn đặt hàng nhận được. JIT thành công nhờ một số yếu tố then chốt:
Tập trung vào chất lượng: JIT luôn đi đôi với hệ thống quản lý chất lượng tổng hợp (TQC) và nâng cao chất lượng sản phẩm. Công nhân tay nghề cao với độ sai sót bằng không sẽ giảm được các chi phí không gia tăng giá trị như kiểm soát viên hay sửa chữa sản phẩm.
Chu kỳ sản xuất ngắn: chu kỳ sản xuất ngắn giúp tăng tốc độ đáp ứng đơn đặt hàng tức thời và giảm mức độ tồn kho.
Chu trình sản xuất trôi chảy: JIT đơn giản hoá chu trình sản xuất để giảm độ trệ, phát triển mối quan hệ với nhà cung cấp để có được nguyên vật liệu ngay khi cần với chất lượng đảm bảo. JIT duy trì tay nghề đều đặn theo nhóm để tránh chi phí ngắt quãng và chi phí chuyển giao bán thành phẩm bằng cách phân bố máy móc cùng một nhóm công việc càng gần nhau càng tốt, công nhân được huấn luyện để sử dụng được toàn bộ các máy móc cùng nhóm. Đây là hình thức sản xuất theo ô (cell). Mỗi ô có thể được coi như một nhà máy thu nhỏ với các nhóm máy thường được sắp xếp theo hình chữ “U”.
Vận hành sản xuất linh hoạt: máy móc cần linh hoạt trong khả năng tạo ra các linh kiện và sản phẩm để tăng thêm sản lượng nếu sản phẩm có mức cầu vượt bậc hoặc tránh cho việc đình trệ sản xuất vì một máy móc nào đó bị hỏng. Thời gian cài đặt và thay đổi hệ thống máy móc cũng phải đủ ngắn. Nhân viên cũng cần được đào tạo đa năng nhằm thế chỗ và kiêm nhiệm, giảm được chi phí lao động bất thường.
Chi phí biên – Marginal Costs
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 27.01.2004
Việc thay đổi một mức độ hoạt động nào đó của doanh nghiệp luôn dẫn tới sự thay đổi chi phí biến đổi và thậm chí cả chi phí cố định. Phần thay đổi này được gọi là chi phí biên. Nắm bắt được chi phí biên theo từng mức sản xuất với một cấu trúc cho trước, cho phép tối ưu năng lực sản xuất, xác định giá bán và tối đa lợi nhuận. Thông qua chi phí biên, nhà sản xuất có thể xác định được mức giá bán tối thiểu đối với từng khu vực khách hàng nhất định và đối với các đơn đặt hàng lớn mà không làm ảnh hưởng tới chính sách thương mại hiện tại.
Vì sao các công ty có thể áp dụng các chính sách giá dựa theo số lượng thành phẩm tiêu thụ? Các đợt bán hàng giảm giá liệu có đem lại kết quả lỗ cho công ty? Việc mở rộng quy mô sản xuất và thay đổi cấu trúc tài sản cố định có ảnh hưởng như thế nào đối giá thành sản phẩm? Các câu hỏi trên có thể được làm sáng tỏ khi sử dụng chi phí biên trong kế toán quản trị.
Chi phí biên là chi phí trên đơn vị thành phẩm được sản xuất và tiêu thụ cuối cùng. Chi phí biên bao gồm các chi phí biến đổi bổ sung bởi có sự gia tăng trong sản xuất, các chi phí này có thể là gián tiếp (tiêu thụ năng lượng) hoặc trực tiếp (nguyên vật liêu, nhân công). Chi phí biên cũng có thể bao gồm chi phí cố định nếu việc gia tăng sản xuất đòi hỏi sửa đổi hoặc bổ sung về cấu trúc (chi phí lắp đặt và khấu hao máy móc bổ sung, lương cho một bộ phận mới).
(Xem thêm Chi phí phân mức).
Có thể đơn giản hoá bằng biểu thức:
Chi phí biên MC = (DC / Dn)
Với: DC = thay đổi chi phí và Dn = thay đổi sản lượng tính ra đơn vị.
Tài sản cố định đã đuợc đầu tư lắp đặt tức là chi phí cố định của một mức sản xuất nhất định (gọi là mức sản xuất thứ nhất) được thực hiện ngay khi chưa thực sự làm ra bất cứ sản phẩm nào. Chi phí biên là chi phí hình thành khi bắt đầu vận hành máy móc, sử dụng nguyên vật liệu và nhân lực để tạo ra sản phẩm (gọi là mức sản xuất thứ hai). Mức này chỉ bao gồm các chi phí biến đổi vì cơ cấu chưa cần phải sửa đổi hay bổ sung.
Như vậy, hai mức sản xuất đầu tiên sẽ có chi phí ngày càng giảm vì cơ cấu tài sản cố định được tận dụng, nhất là khi mức tiêu thụ gia tăng. Tuy nhiên, mức sản xuất với tài sản cố định đã đầu tư (thứ nhất) sẽ chỉ tăng tới một giá trị nhất định, sau đó sẽ cần các khoản đầu tư thêm, vì những lý do như tăng công suất, đảm bảo điều kiện lao động… Cũng phải kể thêm đến các chi phí phân phối, đặc biệt trong các điều kiện khó tiếp cận khách hàng. Khi đó, chi phí biên trên đơn vị sản phẩm sẽ bắt đầu tăng lên (vì bao gồm cả chi phí cố định và biến đổi bổ sung do việc gia tăng sản xuất).
So sánh với chi phí trung bình (bằng tổng chi phí chia cho số lượng sản phẩm) ta thấy chi phí trung bình không chỉ tính chi phí của mức sản xuất sau cùng mà còn tính đến cả chi phí của tất cả các mức sản xuất trước. Chi phí trung bình của mức sản xuất thứ nhất vì vậy bằng chính chi phí cố định (thứ nhất). Như vậy chí phí trung bình của mức tiếp theo sẽ cao hơn chi phí biên của mức đó vì có tính cả phần chi phí cho cơ cấu cố định.
Khi chi phí biên giảm, chi trung bình cũng giảm vì một phần chi phí cố định được phân bổ vào số lượng tăng dần các sản phẩm (mẫu số tăng dần) và vì chi phí biến đổi của mức cuối cùng thấp hơn của mức trước nó. Tuy nhiên, khi chi phí biên bắt đầu tăng (do phải đầu tư thêm) thì chi phí trung bình vẫn có thể tiếp tục giảm vì tỷ trọng đầu tư bổ sung không đáng kể so với mức đầu tư ban đầu. Chi phí trung bình sẽ tăng lên khi chi phí biến đổi trên từng đơn vị sản phẩm không còn được bù đắp bởi phần chi phí cố định. Điểm sản lượng tối ưu đạt được khi chi phí trung bình bằng chi phí biên, khi đó chi phí sản xuất trên từng đơn vị sản phẩm ở mức thấp nhất.
Phân tích chi phí biên giúp các công ty xác định được chính sách giá thấp đối với các khách hàng mới, các khách hàng đặt số lượng lớn, hoặc mức giá thanh lý kho trong thời điểm “sold” hàng năm. Việc hạ giá bán được áp dụng nếu không làm ảnh hưởng tới các khách hàng hiện tại (sold là một ví dụ điển hình) và mỗi sản phẩm sản xuất thêm có chi phí biên thấp mà không làm thay đổi cấu trúc sản xuất.
Xin đưa ra một ví dụ: chẳng hạn công ty có mức tiêu thụ 5000 sản phẩm ở mức giá 30$/1chiếc.
Sản lượng (n) Tổng chi phí (C) Chi phí trung bình (C / n) Chi phí biên (DC / Dn)
4000 92400 23,10 15,90
5000 112500 22,50 20,10
6000 137700 22,95 25,20
đơn vị: $
Lợi nhuận trên 1 đơn vị sản phẩm là: 30-22,5=7,5$. Tổng lợi nhuận là: 7,5×5000=37500$.
- Trường hợp 1: một khách hàng đặt hàng 1000 sản phẩm và yêu cầu một mức giá thấp hơn. Như vậy, sản lượng sẽ tăng lên 6000 chiếc. Nếu việc bán 1000 sản phẩm này không làm thay đổi việc bán hàng thường nhật (nhất là đối với các khách hàng thường xuyên) và không làm thay đổi cấu trúc tài sản cố định, công ty có thể bán 1000 sản phẩm đó với giá bằng chi phí biên là 25,2$. Nếu công ty bán số thành phẩm với giá 27$/1chiếc, tổng lợi nhuận khi ấy là: 37500+(2 -25,2)x1000=39300$.
- Trường hợp 2: doanh nghiệp quyết định giảm giá 5% cho các khách hàng có từ 2 con trở lên. Nghiên cứu thị trường cho thấy lượng tiêu thụ có thể tăng lên tới 6000 chiếc. Xin chớ nhầm lẫn rằng tổng thu nhập sẽ tăng lên [30x(1-5%) - 25,2]x1000=3300$ vì một số khách hàng trước đó cũng thuộc nhóm ưu tiên và vì thế cũng được hưởng ưu đãi giảm giá. Ví dụ trong số khách hàng cũ có 500 khách hàng có từ 2 con trở lên, như vậy, phần giảm giá con thiếu là: [30x(1-5%) - 25,2]x500=750$ tức là tổng lợi nhuận chỉ tăng lên: 3300-750=2550$.
Phương pháp chi phí biên thường được sử dụng khi nhà quản lý cần có quyết sách đúng đắn về một hoạt động mới hoặc nhằm thay đổi một hoạt động hiện tại. Thông qua chi phí biên, người ta có thể tính toán và so sánh doanh thu bổ sung kỳ vọng. Chi phí biên cũng được sử dụng để so sánh và đưa ra quyết định loại bỏ hoặc giảm các hoạt động được coi là không hiệu quả. Cần đặc biệt lưu ý tới khái niệm này khi việc thay đổi cấu trúc là điều kiện nhất thiết cho việc phát triển. Các tính toán chi phí biên cũng cần được thực hiện đều đặn trong dài hạn nhằm đảm bảo tính bền vững.
(Tổng hợp)
Giới thiệu chi phí
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com |2004
Đơn vị chi phí: để đo lường các nguồn lực tiêu hao khi thực hiện một hoạt động, người ta đưa ra khái niệm kích tố chi phí (cost driver). Một số ví dụ về kích tố chi phí:
- Tiền công: giờ công
- Năng lượng: số Kw tiêu thụ
- Quảng cáo: số lần quảng cáo
- Vân chuyển: số Kg hàng hóa.
- Lương nhân viên tiếp thị: giá trị hàng bán được.
Phân loại chi phí:
- Chi phí biến đổi (variable cost): chi phí thay đổi với tỷ lệ trực tiếp đối với thay đổi số lượng đơn vị chi phí.
- Chi phí cố định (fixed cost): chi phí không bị ảnh hưởng tức thì khi thay đổi số lượng đơn vị chi phí.
Ví dụ, nếu coi số lượng sản phẩm là đơn vị chi phí, nếu tăng số lượng sản phẩm lên 10%, chi phí biến đổi sẽ tăng cùng tỷ lệ 10% còn chi phí cố định không thay đổi. Như vậy, tỷ lệ tổng chi phí sẽ thay đổi kéo theo tỷ lệ chi phí cố định trong mỗi sản phẩm sẽ giảm đi.
Mức thay đổi chi phí hợp lý (relevant range):
- Tỷ lệ chi phí cố định giảm trong mỗi sản phẩm khi số lượng sản phẩm tăng. Tuy nhiên, mọi dây truyền sản xuất chỉ đạt được đến một mức sản lượng nhất định, muốn đạt được sản lượng trên mức này, doanh nghiệp cần đầu tư vào một dây truyền sản xuất khác hoặc cải tiến nâng cấp dây truyền hiện có.
- Mức thay đổi chi phí hợp lý là giới hạn của hoạt động tạo ra chi phí trong đó quan hệ giữa chi phí và đơn vị chi phí là hợp lệ. Vượt quá giới hạn này, mối quan hệ đó sẽ thay đổi.
- Mức thay đổi chi phí hợp lý cũng có thể áp dụng cho chi phí biến đổi vì khi sản lượng thay đổi tới một mức nào đó, tỷ lệ chi phí biến đổi cũng sẽ thay đổi.
Phân tích chi phí – số lượng – lợi nhuận (CVP): đây là hình thức nghiên cứu tác động của số lượng sản phẩm đầu ra với doanh số, chi phí và thu nhập ròng nhằm kiểm soát chi phí.
- Điểm hòa vốn (break-even point): là mức bán hàng mà tại đó doanh thu bằng chi phí và thu nhập ròng bằng 0. Mức bán hàng cao hơn sẽ tạo ra lợi nhuận ròng. Sử dụng điểm sinh lãi, người quản lý có thể xác định được biên độ an toàn = số lượng bán dự tính – số lượng bán tại điểm sinh lãi. Biên độ này cho biết khả năng giảm lượng bán tới đâu để không thể bị lỗ.
- Thu nhập biên (marginal income): mỗi sản phẩm bán ra sau khi trừ đi chi phí biến đổi trên mỗi đơn vị sản phẩm cho một thu nhập biên. Có thể thấy là tại điểm hoàn vốn, thu nhập biên = chi phí cố định. Từ đó có thể tính số sản phẩm cần bán để đạt đến điểm hoàn vốn = tổng chi phí cố định : thu nhập biên của mỗi sản phẩm. Thu nhập biên này được coi là đóng góp của mỗi sản phẩm vào chi phí cố định và thu nhập, vì sau điểm hoàn vốn, cứ mỗi sản phẩm lại đóng góp thêm một giá trị bằng giá bán – chi phí biến đổi.
- Phương trình: Doanh thu – Chi phí biến đổi – Chi phí cố định = Thu nhập ròng. Với doanh thu = đơn giá x số lượng bán; chi phí biến đổi = chi phí biến đổi trên 1 đơn vị sản phẩm x số lượng bán.
- Có thể thấy thu nhập biên là dạng rút gọn của phương trình. Điểm sinh lãi thay đổi khi chi phí cố định thay đổi và dịch chuyển khi chi phí biến đổi thay đổi.
- Lợi nhuận mục tiêu: có thể sử dụng mô hình CVP tính doanh thu (hay số sản phẩm bán) cần thiết để đạt được một mức lợi nhuận mục tiêu. Số sản phầm cần bán = (chi phí cố định + lợi nhuận mục tiêu) : thu nhập biên mỗi sản phẩm.
Cơ cấu chi phí hợp lý:
Doanh nghiệp thường tìm cơ cấu chi phí có lợi nhất. Ví dụ: mua một máy tự động làm tăng chi phí cố định nhưng lại giảm được chi phí nhân công. Thuê một nhân viên bán hàng hưởng theo phần trăm sản phẩm bán được sẽ giảm chi phí cố định so với thuê một nhân viên hưởng lương tháng.
Các doanh nghiệp chi nhiều cho quảng cáo thường có tỷ lệ thu nhập biên lớn so với doanh thu (thuốc lá, hàng không, mỹ phẩm…), và ngược lại, các doanh nghiệp có tỷ lệ thu nhập biên nhỏ so với doanh thu, thường ít chi cho quảng cáo hơn (máy công nghiệp…).
Có một kết luận rút ra: sau khi vượt qua điểm hoà vốn, doanh nghiệp có tỷ lệ thu nhập biên càng lớn sẽ có nhiều lợi nhuận hơn khi số lượng sản phẩm bán ra càng tăng.
Đòn bẩy hoạt động: tỷ lệ giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi.
- Doanh nghiệp với chi phí cố định lớn và chi phí biến đổi nhỏ sẽ có thay đổi lợi nhuận lớn khi doanh số thay đổi dù ở mức nhỏ.
- Doanh nghiệp với chi phí cố định nhỏ và chi phí biến đổi lớn sẽ có lợi nhuận ít bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của doanh số.
Như vậy với mức đòn bẩy lớn, doanh nghiệp có thể có lợi nhuận lớn nhưng cũng tiềm ẩn một rủi ro lớn vì phụ thuộc nhiều vào doanh số bán ra.
Hoạt động tạo phí tuyến tính (còn gọi là sự vận hành của chi phí): hoạt động có thể biểu diễn bằng một đường thẳng vì chi phí được giả định hoặc cố định hoặc biến đổi. Như đã nêu, mức thay đổi chi phí hợp lý là giới hạn của hoạt động tạo ra chi phí trong đó quan hệ giữa chi phí và đơn vị tính phí là hợp lệ. Vượt quá giới hạn này, mối quan hệ đó sẽ thay đổi. Nhà quản lý thường xác định các mức thay đổi dựa trên kinh nghiệm về các mức độ khác nhau của hoạt động và chi phí.
Kích tố chi phí:
- Kích tố chi phí theo số lượng: các chi phí trong trường hợp này dễ nhận biết dựa trên số lượng thành phẩm hay dịch vụ. Ví dụ: số lượng bản in quyết định chi phí nhân công, giấy, mực và đóng sách.
- Kích tố chi phí phức hợp: các chi phí trong trường hợp này rất khó nhận biết theo số lượng do được tạo ra từ các hoạt động không liên quan trực tiếp tới số lượng thành phẩm và thường có nhiều kích tố chi phí. Ví dụ: lương và tiền công của biên tập viên. Nhân viên này hoạt động với nhiều đầu sách khác nhau nên rất khó xác định tỷ lệ chi phí trong từng đầu sách.
Chi phí phân mức (step-cost): những chi phí thay đổi giữa các phạm vi hoạt động (mức thay đổi chi phí) mà nguồn lực và chi phí ở một mức không thể chia nhỏ.
- Nếu mức chi phí này tương đối lớn và ứng với một phạm vi hoạt động rộng và đặc trưng, chi phí được coi là chi phí cố định trong khoảng hoạt động đó.
- Nếu mức chi phí khá nhỏ ứng với phạm vi hoạt động hẹp, chi phí thường được coi là chi phí biến đổi.
Chi phí hỗn hợp (mixed cost):
Những chi phí bao gồm cả các yếu tố cố định và biến đổi, thường bao hàm một phạm vi hoạt động nhất định với một mức chi phí cố định. Nói cách khác chi phí này chỉ có một mức thay đổi chi phí hợp lý và một mức chi phí cố định. Chi phí biến đổi lúc này chỉ biến đổi theo tỷ lệ với hoạt động trong mức thay đổi chi phí hợp lý.
Ví dụ: trong một bệnh viện, chi phí cố định cho nhân viên và dụng cụ vệ sinh khoảng 100 triệu đồng / 1 tháng. Thêm vào đó, chi phí sửa chữa và lau rửa biến đổi thêm 50 ngàn đồng / 1 bệnh nhân được đưa tới bệnh viện.
Giám đốc bệnh viện có thể lên dự trù như sau:
- Giả sử bệnh viện ước tính vào tháng sau sẽ nhận 1 ngàn bệnh nhân / 1 ngày. Chí phí vệ sinh ước tính sẽ là:
100 triệu đồng chi phí cố định + 50 ngàn đồng x 1 ngàn bệnh nhân = 150 triệu đồng.
- Giả sử đến tháng sau bệnh viện nhận đủ 1 ngàn bệnh nhân nhưng chi phí vệ sinh thực tế lên tới 180 triệu đồng. Giám đốc bệnh viên sẽ phải tìm hiểu nguyên nhân của khoản 30 triệu chi trội so với dự toán. (Có thể xem xét lại cơ cấu chi phí cố định hoặc thay thế phương tiện vệ sinh tự động giảm thiểu khoản phải trả thêm ngoài giờ cho lao động…).
Hàm chi phí đơn giản:
Y = tổng chi phí
F = tổng chi phí cố định
V = chi phí biến đổi trên mỗi đơn vị tính phí
X = số lượng kích tố chi phí
ta có: Y = F + VX
lấy ví dụ trên: Y = 100.000.000 + 50.000X
Hàm chí phí hỗn hợp này có dạng đường thẳng, còn gọi là hàm chi phí tuyến tính.
Khái quát các hình thức đấu giá
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 17.05.2004
Đấu giá là một cơ chế thị trường trong đó một vật hữu hình hay vô hình (bằng sáng chế…), một hay một tập hợp sản phẩm hay dịch vụ, (gọi chung là vật đấu giá) được trao đổi, mua bán trên cơ sở giá chào những người tham gia đấu giá hay người trả giá (bidder), những thành viên tham gia thị trường. Đấu giá cung cấp một hệ quy tắc điều chỉnh qua đó quyết định mua từ hay bán cho người trả giá thích hợp nhất. Đấu giá được tổ chức vào thời điểm xác định với số người tham gia hạn chế.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, đấu giá được mở rộng hơn rất nhiều và phát triển lên một bước mới.
Là một tiêu điểm của các nhà khoa học về lý thuyết trò chơi, trọng tâm nghiên cứu về đấu giá thường xoay quanh vấn đề lựa chọn phương thức và chiến lược đấu giá. Quy trình đấu giá thường bao gồm một người bán đấu giá (auctionneer) sở hữu vật đấu giá hoặc được uỷ nhiệm điều khiển cuộc bán đấu giá và người tham gia. Người này thông báo về vật đấu cũng như phương thức đấu giá tới các đối tượng xác định (trừ trường hợp đấu giá rộng rãi). Người quan tâm tới vật đấu giá sẽ đăng ký tham gia đấu giá. Người bán muốn bán với giá cao nhất có thể, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất có thể. Tuỳ theo cơ chế đấu giá, người ta có thể chào giá một hoặc nhiều lần. Đôi khi, người bán đấu giá có thể đưa ra một mức giá chấp nhận tối thiểu, gọi là giá hạn chế (reservation price).
Một trong những đặc điểm của đấu giá là vật chào bán có giá trị chung hay riêng đối với những người tham gia. Một vật có thể chỉ có giá trị (riêng) nếu nó rơi vào tay một người (hay một nhóm thiểu số người) nhất định, sưu tầm đồ cổ chẳng hạn. Một chiếc xe đạp sản xuất từ cách đây 50 năm đối với nhiều người thì không khác gì cục sắt rỉ nhưng đối với nhà sưu tầm thì nó lại là cả một gia tài. Vật mang giá trị chung nếu nó có cùng giá trị tương đương đối với tất cả mọi người tham gia đấu giá. Chẳng hạn như bán đấu giá một liều thuốc trường sinh.
Một đặc trưng khác của đấu giá là phương thức thực hiện. Người thắng cuộc có thể trả (hoặc được trả) theo giá mà người đó chào (đấu giá mức thứ nhất) hoặc theo mức giá liền kế tiếp (đấu giá mức thứ hai). Việc đấu giá có thể được tổ chức công khai (open cry) hoặc theo hồ sơ niêm phong (sealed bid).
Đấu giá mức thứ nhất cho phép người chào trả giá cao nhất được mua vật đấu giá và trả tiền tại mức giá đó. Mặt khác, trong đấu thầu (procurement auction), người thắng cuộc là người thắng thầu là người chào ở mức giá thấp nhất và được trả bằng với mức giá đó. Chẳng hạn như việc đấu thầu xây dựng công trình công cộng. Trên thực tế, đấu giá mức thứ nhất thường là đấu giá niêm phong hoặc đấu giá kiểu Hà Lan (Dutch auction).
Đấu giá niêm phong: đây là hình thúc đấu giá trong đó người tham gia cùng nộp giá chào một lúc mà không được biết giá của người khác cũng như giữ kín không cho người khác biết giá của mình. Thông thường người trả giá mua cao nhất (hoặc giá bán thấp nhất như hình thức đấu thầu) sẽ thắng. Nguời thắng có thể trả theo giá đã chào hoặc tại mức giá thấp hơn ngay sau mức giá thắng cuộc (đấu giá mức thứ hai).
Đấu giá kiểu Hà Lan: người bán đấu giá đưa ra một mức giá rất cao cho vật đấu giá mà thường là không người mua nào trả nổi. Mức giá sẽ được hạ xuống dần dần theo một chiếc đồng hồ. Nếu người trả giá chấp nhận mức giá thì phải ấn nút chấp nhận ngay, nếu không sẽ mất cơ hội. Phuơng thức này được áp dụng rộng rãi trong các chợ Hoa nổi tiếng của Hà Lan.
Đấu giá mức thứ hai chấp nhận người trả giá ở mức cao nhất và người thắng cuộc chỉ phải trả tiền ở mức giá thấp liền dưới mức thắng cuộc. Trong đấu thầu, người bỏ thầu có mức giá thấp nhất sẽ được chấp nhận thầu nhưng được trả tiền ở mức cao liền trên mức giá chào thắng cuộc. Đấu giá mức thứ hai thường là đấu giá niêm phong hoặc đấu giá kiểu Anh (English auction).
Đấu giá kiểu Anh: người bán đấu giá điều khiển cuộc bán đấu giá sao cho người trả giá thắng được mức giá hiện tại. Giá chào mới phải cao hơn giá chào cũ một khoảng cho trước. Cuộc đấu giá chấm dứt khi không còn người nào đưa ra mức giá khá hơn. Người trả giá hiện tại sẽ thắng và trả số tiền theo giá đã chào. Đấu giá kiểu Anh được coi là đấu giá mức thứ hai vì người thắng cuộc chỉ cần chào giá ở mức giá thứ hai (hoặc hơn mức thứ giá thứ 2 một chút)
Đấu giá mức thứ hai còn được gọi là đấu giá Vickrey, lấy tên của William Vickrey, giải Nobel 1996. Ông là người đầu tiên mô tả và chỉ ra rằng người trả giá có một chiến lược vượt trội để trả giá theo giá trị thực mà người chơi mà không cần quan tâm tới những gì mà đối thủ làm nhưng vẫn đạt được lợi ích cao nhất so với các chiến lược khác. Phần chênh lệch giửa mức thứ nhất và thứ hai, theo Ông, khuyến khích người trả giá đưa ra con số lớn nhất mà họ sẵn sàng trả.
Các hình thức đấu giá không chỉ được áp dụng đối với những mặt hàng hiếm mà còn được sử dụng rộng rãi tại các sàn giao dịch hàng hoá theo lô, đặc biệt là với các cơ chế khớp lệnh giao dịch tự động. Nghiên cứu đấu giá giúp cho các nhà thiết kế thị trường có thể tối ưu hoá hoạt động mua bán. Hơn thế nữa, kết hợp với lý thuyết trò chơi, nghiên cứu đấu giá có thể giúp người bán đấu giá đạt được hiệu quả cao hơn.
Nguồn tham khảo:
- Theories of Auctions, GameTheory.Net.
- L’intelligence des agents, Adina Magda Florea, Institut Galilée, Université Paris 13.
- Vickrey Auction, MathWorld.
(Tổng hợp)
Prisoners’ Dilemma – Hợp tác hay không
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 11.05.2004
“Ngụ ngôn hai người tù” là tên một trò chơi nghiên cứu về sự hợp tác giữa những người trong cuộc. Ý tưởng về trò chơi này được hai ông Merrill Flood và Melvin Dresher đưa ra thảo luận từ năm 1950, trong khuôn khổ nghiên cứu về lý thuyết trò chơi của Rand Corporation.
Cái tên “Ngụ ngôn hai người tù” (Prisoners’ Dilemma), dịch đúng là “tình trạng lưỡng nan của hai người tù”, được Albert Tucker đặt trong cuốn ghi chép không xuất bản của ông: “Two-person dilemma” năm 1950.
Truyện kể rằng Tanya và Cingque bị bắt khi mang súng vào Ngân hàng tiết kiệm Hibernia. Bị nhốt ở hai phòng giam riêng biệt, cả hai đều lo lắng cho số phận của mình hơn là cho đồng đảng. Nhân viên điều tra đã đưa ra một điều kiện thông minh nhằm lấy lời khai của hai tên cướp. Anh ta nói với mỗi tên trong bọn chúng: “Anh có quyền chọn Im lặng hoặc Khai báo nhưng hãy nhớ rằng nếu anh chịu Khai báo rằng các anh định cướp ngân hàng và đồng đảng của anh giữ Im lặng, anh sẽ được tự do và chúng tôi sẽ kết luận đồng đảng của anh phạm tội, hắn sẽ bị ngồi tù. Ngược lại, nếu anh giữ Im lặng mà đồng đảng của anh Khai báo, chính anh sẽ phải ngồi tù còn hắn sẽ ung dung tại ngoại. Nếu cả hai anh đều Khai báo, chúng tôi sẽ kết án với tình tiết giảm nhẹ, còn nếu cả hai đều giữ Im lặng, chúng tôi sẽ bỏ tù các anh vì tội mang súng trái phép.
Vậy anh chàng Tanya sẽ nghĩ sao nhỉ? Anh ta nghĩ đi nghĩ lại thì thấy mình chỉ có lựa chọn là Im lặng hoặc Khai báo mà thôi. (1) Nếu đồng đảng của Tanya Im lặng, Tanya cũng Im lặng, cả hai cùng bị tù vì mang súng bất hợp pháp. Nếu Tanya Khai báo, anh ta sẽ được tự do. Vậy thì Khai báo là hơn. (2) Nếu đồng đảng của Tanya Khai báo mà Tanya Im lặng, anh ta sẽ phải ngồi tù vì tội cướp ngân hàng. Nếu Tanya cũng Khai báo, anh ta sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Vậy thì khai báo là hơn. Cingque cũng suy nghĩ như vậy. Và thế là cả hai đều chọn Khai báo và phải ngồi tù vì cướp nhà bằng, mặc dù có tình tiết giảm nhẹ thì cũng vẫn phải ngồi tù lâu hơn tội mang súng trái phép. Nếu trước đó, hai tên cướp có mối quan hệ tốt hơn hoặc chúng có thể trao đổi trước trong tù thì đâu đến nỗi.
Ở đó có thể thấy xung đột giữa lợi ích nhóm và lợi ích cá nhân. Một nhóm với những cá nhân trục lợi có thể dẫn tới kết quả tồi hơn nhóm khác. Trò chơi đặt ra vấn đề ở chỗ cả sẽ đều thắng nếu cùng hợp tác, nhưng nếu có một người không hợp tác, tức là phá vỡ cam kết, người đó sẽ được lợi nhiều hơn. Nếu cả hai đều phá vỡ cam kết, cả hai sẽ đều thua (hoặc được lợi chút ít).
Có thể biểu diễn tình huống và kết quả của trò chơi như sau:
A / B Hợp tác Không hợp tác
Hợp tác Khá có lợi +5 Rất có hại -10
Không hợp tác Rất có lợi +10 Bình thường 0
Đây là kết quả của A sau khi B đưa ra quyết định. Có thể thấy nếu B chọn Hợp tác, A chọn Không hợp tác sẽ có lợi hơn. Nếu B chọn Không hợp tác, A chọn Không hợp tác cũng có lợi hơn. B cũng sẽ chọn như vậy. Bất cứ ai hợp tác mà không được đáp lại sẽ bị thua thiệt bởi người kia, trừ khi họ tìm thấy lợi ích gia tăng, đôi bên cùng có lợi lớn (synergy), từ việc hợp tác.
Như vậy, prisoners’ dilemma là một trò chơi có tổng bằng 0 khi không tìm thấy sự hợp tác giữa những người chơi. Cả 2 đều nhận được 0 nếu đều không hợp tác, nếu một người nhận được +10 thì người kia sẽ nhận được -10 với tổng (+ 10 – 10) = 0. Rõ ràng là nếu trò chơi được chuyển sang tổng khác 0, hợp tác giữa hai người sẽ tạo ra cho mỗi người +5, với tổng (+ 5 + 5) = 10.
Vì lợi ích giữa việc cùng hợp tác (+5) nhỏ hơn việc không hợp tác (+10) nên người ta có xu hướng không hợp tác. Lập luận không phải hoàn toàn đúng. Chẳng hạn như ví dụ mà Pricipia Cybernetica đưa ra [1]: hai con sói luôn có thể bắt được con mồi lớn hơn nhiều con mồi mà một con sói có thể bắt được. Ngay cả khi một con sói bắt được một con thỏ và chia sẻ với bạn mình thì con sói lười nhác thứ hai cũng vẫn có ít thức ăn hơn nếu nó hợp tác với con sói thứ nhất để bắt một con hoẵng.
Tuy nhiên, việc hợp tác bắt một con hoãng không phải là đơn giản và người ta coi nó như một sự hợp tác lâu dài, đòi hỏi nhiều nỗ lực và công sức trong dài hạn. Prisoners’ Dilemma tập trung nghiên cứu về việc ra quyết định trong ngắn hạn, khi mà người tham gia không có thời gian hoặc không mong đợi vào sự hợp tác hay kết hợp trong tương lai (giống như trường hợp hai người tù). Vấn đề đặt ra là hai người ra quyết định đều suy nghĩ một cách thuần lý (rational) [2], tức là lựa chọn phương án có lợi nhất cho mình bất kể người kia muốn hợp tác hay không, vì vậy mà họ sẽ luôn chọn không hợp tác và dẫn tới chẳng ai được gì (0). Nếu họ không thuần lý mà chọn hợp tác thì cả hai đều có lợi (+5) mà không ai bị thua thiệt.
Serendip [3] có đưa ra một trò chơi với hai người A và B như sau:
- Mỗi lần đi, A và B phải chọn giữa hợp tác hoặc vượt lên người chơi cùng mình (bằng cách chọn cạnh tranh) mà không biết người kia sẽ chọn gì.
- Mỗi lần chơi, A và B mỗi người sẽ có một số tiền tuỳ thuộc vào lựa chọn của hai người.
- Nếu chọn hợp tác sẽ được 3 đồng.
- Nếu một người chọn hợp tác mà người kia chọn cạnh tranh, người đó sẽ được 5 đồng, còn người chọn hợp tác sẽ không được gì.
- Nếu cả hai cùng chọn cạnh tranh, mỗi người sẽ có 1 đồng.
Sau mỗi lượt chơi, người ta sẽ lấy ngẫu nhiên một số và so sánh với số tiền trung bình của những lần chơi trước đó của mỗi người. Đến hết lượt cuối cùng, các kết quả so sánh sẽ được công bố, nếu có lần nào đó số tiền trung bình nhỏ hơn số ngẫu nhiên, người chơi sẽ không được đồng nào cả. Nếu không, người chơi sẽ được hưởng tổng số tiền mà anh ta kiếm được đến hết lượt cuối cùng.
Như vậy, vì không thể biết được số ngẫu nhiên nên người chơi phải tìm cách tối đa số tiền anh ta thu được sau mỗi ván chơi. Theo như đã phân tích ở trên, A sẽ có xu hướng chọn cạnh tranh.
Lượt thứ nhất: Số tiền thu về của mỗi người thể hiện ở bảng dưới đây.
A / B Hợp tác Cạnh tranh
Hợp tác 3 / 3 0 / 5
Cạnh tranh 5 / 0 0 / 0
Giả sử A chọn cạnh tranh và B chọn hợp tác, A sẽ được 5 đồng, B thì không được đồng nào. Trung bình của A là 5, và của B là 0. Nếu B chọn cạnh tranh thì cả hai đều không có đồng nào.
Lượt thứ hai: Ở lượt đi này A sẽ chỉ có lợi khi B chọn hợp tác. Vậy B có chọn hợp tác hay không? Dưới đây là ma trận tổng số tiền của hai người nếu B chọn cạnh tranh (A đã có sẵn 5 đồng từ lượt chơi trước).
A / B Hợp tác Cạnh tranh
Hợp tác 8 / 3 0 / 5
Cạnh tranh 10 / 0 0 / 0
Rõ ràng B sẽ phải chọn cạnh tranh để tìm cách quân bình điểm với A, các lựa chọn khác đều dẫn tới B thấp điểm hơn A. Vậy khi B chọn cạnh tranh thì điểm của A dừng lại ở con số 5 cho dù A chọn phương án nào. Trung bình của A và B đều là: 2,5.
Bây giờ ta xét trường hợp A và B cùng chọn hợp tác ở lượt thứ nhất.
Lượt thứ nhất: Trung bình của cả hai người đều là 3.
Lượt thứ hai: Nếu cả cùng chọn hợp tác, trung bình sẽ vẫn là 3 > 2,5.
Cứ như vậy, nếu A hay B chọn cạnh tranh, tình huống sẽ rơi về trường hợp 1, làm cho trung bình sẽ lại nhỏ hơn trung bình khi chọn hợp tác (3). Do suy nghĩ thuần lý và không có trao đổi qua lại giữa hai bên, A và B đã tự làm tăng xác suất thua cuộc của mình lên trong khi cả hai có thể về đích an toàn và hưởng số tiền sau lượt chơi cuối cùng bằng cách hợp tác.
Robert Axerold, giáo sư chính trị và chính sách công của Đại học Michigan, tác giả cuốn “The Evolution of Cooperation”, đã tổ chức thực hiện 200 trò chơi Prisoners’ Dilemma từ đơn giản đến vô cùng phức tạp với 14 nhà kinh tế học và toán học nhằm tìm kiếm một chiến thuật tốt nhất cho mọi trò chơi. Kết quả là chiến thuật đơn giản nhất của giáo sư Anatol Rapoport của Đại học Toronto, Canada, đã đạt số điểm cao nhất. Chiến thuật đó được chiến thuật “ăn miếng trả miếng” (Tit For Tat) chỉ gồm 2 quy tắc:
- Lượt đầu tiên chọn hợp tác.
- Các lượt sau chọn như đối thủ đã chọn ở lượt liền kề trước đó.
Chiến thuật này càng khẳng định vị trí độc tôn sau khi Robert Axelrod tổ chức tiếp một vòng chơi khác gồm 62 đối thủ là các giáo sư đến từ 6 nước. Sức mạnh của Tit For Tat là khả năng ép các chiến thuật cạnh tranh phải hợp tác. Sau khi xếp hạng các chiến thuật theo điểm số từ cao xuống thấp, Axerold nhận thất rằng những người ít tha thứ (tức là ít quay lại hợp tác nhất) có điểm số thấp nhất. Ông đi tới kết luận bằng 4 quy tắc nổi tiếng.
- Không bao giờ là người đi quá giới hạn trước (luôn hợp tác ở những lượt chơi đầu tiên).
- Tự vệ nhưng biết tha thứ (không hợp tác nếu đối thủ không hợp tác, hợp tác nếu đối thủ hợp tác).
- Không đố kỵ cho dù người ta giàu có hơn mình (luôn duy trì hợp tác).
- Biết chắc là đối thủ có khả năng hiểu được trò chơi như mình.
Người ta nói rằng Martin Luther King Jr. và Assar Arafat, những nhà lãnh đạo được giải Nobel về hoà bình, đều đã áp dụng xuất sắc chiến thuật ấy. Thực hư thế nào xin được dành đến bài viết sau.
———————————————————-
[1] The Prisoners’ Dilemma – Pricipia Cybernetica.
[3] You Have Found The Prisoners’ Dilemma – Serendip.
(Tổng hợp)
Zero-sum and non zero-sum games, trò chơi có tổng bằng 0 và khác 0
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 10.05.2004
Lý thuyết trò chơi coi trò chơi là sự kết hợp hoặc trao đổi giữa hai hay nhiều đối thủ ở đó mỗi đối thủ cố gắng lựa chọn tối ưu hành động (hay nước đi) của mình nhằm đạt được lợi ích tối đa. Người ta chia các trò chơi ra làm 2 loại: trò chơi có tổng bằng 0 và trò chơi có tổng khác 0.
Trò chơi có tổng bằng 0 (zero-sum) là trò chơi có tổng giá trị kết quả (mà người thắng được hưởng) là cố định. Bất cứ bên nào thắng (+1) cũng làm cho bên kia thua cuộc (-1), tương ứng với tình huống ganh đua thuần tuý, cuối cùng dẫn tới tổng (+1 -1) = 0.
Cờ vua là một trò chơi có tổng bằng 0 bởi không thể có trường hợp cả hai bên đều thắng hoặc đều thua. Nếu một bên thắng thì bên kia nhất định là thua và ngược lại [1]. Thể thao là những ví dụ điển hình nhất của trò chơi có tổng bằng 0. Nhà vô địch chỉ có thể đạt được vinh quang khi toàn bộ các đối thủ khác đều thua cuộc. Trong một giải bóng đá tổng số trận thắng luôn bằng tổng số trận thua cũng là bởi cái tính chất tổng bằng 0 ấy.
“Được ăn cả, ngã về không”, việc đầu cơ chứng khoán cũng chính là một trò chơi có tổng bằng 0, ở đó, kẻ đầu cơ có thể mất trắng hoặc thắng lớn, nhưng lợi nhuận mà anh ta thu được có thể đổi bằng cả gia tài, đôi khi mạng sống của những nhà đầu tư tài chính khác.
Khác với tổng bằng 0, trong những tình huống có tổng khác 0, lợi ích thu được của người nay không nhất thiết dẫn tới sự mất mát của người kia. Các tình huống này tồn tại với điều kiện tổng kết quả (mà người thắng được hưởng) không bị giới hạn hay cố định. Về bản chất đây là trường hợp kiến tạo kết quả thay vì chia sẻ kết quả giữa các đối thủ.
Chẳng hạn như khi nghe hoà nhạc, người ta không phải thích một bản hoà tấu vì người khác không thích nghe. Việc ai đó không thích nghe chẳng có ảnh hưởng gì tới sở thích của bạn trong điều kiện bạn không phải nghe lời bình luận của người đó [2].
Thực ra trong trò chơi tổng bằng 0 cũng có thể tồn tại tình huống tổng khác 0. Chẳng hạn như ví dụ mà R. Kaplan (2003) đưa ra [3]. Ở một trận tennis đơn, mỗi đối thủ chỉ có cơ hội thắng hoặc thua (hoặc là … hoãn trận đấu). Còn ở trận tennis đôi, mỗi đôi có cơ hội thắng hoặc thua ứng với trò chơi có tổng bằng 0, nhưng mỗi cầu thủ trong cùng một đội lại đang tham gia vào một trò chơi có tổng khác 0 mà ở đó họ có thể cùng thua hay cùng thắng. Rõ ràng là họ đang hỗ trợ nhau hết mình để cùng dành phần thắng đúng không.
Các tiện ích công cộng, thông tin hay kiến thức cũng có tổng khác 0 bởi người ta có thể sử dụng mà không làm cạn kiệt hay làm mất phần của người khác. Năng lượng mặt trời cũng vậy. Người ta có thể sử dụng thoải mái mà không phải lo những người khác hay cho con cái đời sau không có mà dùng. Việc phát triển công nghệ này còn có lợi cho bất cứ ai trên thế giới (có lẽ trừ mấy ông sản xuất điện truyền thống) và cho cả các thế hệ sau.
Ngoài lề một chút, không biết bạn đã từng xem kiến càng “thi đấu” đến “hơi thở cuối cùng” bao giờ chưa. Đó là một cuộc chơi có tổng khác 0 giữa hai chú kiến mà ở đó không có người thắng, chỉ có kẻ chết trước và chết sau mà thôi. Giá mà hai chú kiến có thể trao đổi qua lại và đổi “đối đầu” thành “đối thoại” thì chắc mấy chú nhóc nghịch ngợm cũng chằng còn hứng thú nào mà làm khổ hai chú kiến cỏn con ấy nữa.
Đừng tưởng mấy chị buôn chuyến không biết chơi trò tổng khác 0 nhé. Nếu đôi bên không cùng có lợi, có lẽ sẽ chẳng có hoạt động buôn bán nào có thể diễn ra. Người đi buôn chẳng dại gì tham gia vào thương vụ mà không nhìn thấy lợi nhuận gì. Tất nhiên không phải thương vụ buôn bán nào cũng sinh lợi, nhưng người ta vẫn cứ đi buôn đấy thôi.
Hầu hết các hiện tượng kinh tế đều có tổng khác 0. Chẳng hạn khi sản lượng khai thác quặng tăng lên, nhà khai thác giảm giá đầu ra. Nhà máy luyện kim qua đó cung ứng đầu vào với giá rẻ hơn cho nhà máy cán thép đảm bảo được vật liệu cho ngành xây dựng với giá thành hạ. Ngành xây dựng tăng trưởng. Người chủ đầu tư xây dựng hài lòng, chủ nhà máy cán thép rồi luyện kim cũng đều hài lòng từ việc gia tăng sản lượng khai thác quặng. Còn nhà khai thác qua đó cũng bán thêm được nhiều quặng. Có thể thấy tất cả đều thắng trong cuộc chơi có tổng khác 0 này.
Ngày nay, người ta ứng dụng tổng khác 0 vào những chiến lược kinh doanh win-win, tức là đôi bên cùng có lợi. Bất cứ công ty nào cũng phải nghĩ tới mối lợi của của những người cùng chơi, đó là khách hàng, là nhà cung ứng, là những đối tượng mà người ta gọi là “steakholders” tức là ít nhiều có một chút lợi ích từ sự thành công của công ty, trong đó có xã hội nữa. Muốn phát triển bền vững, hãy luôn lấy chiến lược win-win làm mục đích hướng tới cho mình. Rõ ràng chiến lược kinh doanh tối ưu phải tham gia vào trò chơi có tổng khác 0 chứ không thể rơi vào vòng xoáy của cuộc chơi có tổng bằng 0 sinh tử.
——————————————————
[1] Zero sum games – Principia Cybernetica.
[2] Non-zero-sum – Wikipedia.
[3] Robert Kaplan & Robert Wright – Ông Trật Tự gặp ngài Hỗn Loạn – Hà Phương Thuỷ Trang dịch, Ngô Tự Lập hiệu đính – Talawas 2003.
(Tổng hợp)
John Nash và lý thuyết cân bằng
Trịnh Minh Giang | Viet Management Group 2004
John Forbes Nash Jr., sinh ngày 13 tháng 6 năm 1928, là một nhà toán học nghiên cứu về lý thuyết trò chơi và hình học vi phân. Ở tuổi 30, khi đang cống hiến hết mình cho toán học, Nash mắc chứng tâm thần phân liệt kéo dài 25 năm. Năm 1994, nhờ những đóng góp của cân bằng Nash trong kinh tế, ông được trao giải Nobel Kinh tế. Cuộc đời của Nash đã được chuyển thể thành phim với tiêu đề “A Beautiful Mind”, dựa theo cuốn sách cùng tên của Sylvia Nasar và đã đoạt 4 giải Oscars 2002.
Cân bằng Nash là một khái niệm trong Lý thuyết Trò chơi (Game Theory), được tiến sỹ John Nash đưa ra trong luận án năm 1950 tại Priceton với mô hình trò chơi với n đối thủ. Cân bằng Nash [1] xác định một chiến lược tối ưu cho các trò chơi khi chưa có điều kiện tối ưu nào được xác định trước đó. Định nghĩa cơ bản của cân bằng Nash là: Nếu tồn tại một tập hợp các chiến lược cho một trò chơi với đặc tính là không một đối thủ nào có thể hưởng lợi bằng cách thay đổi chiến lược hiện tại của mình khi các đối thủ khác không thay đổi, tập hợp các chiến lược đó và phần thu nhận tương ứng tạo nên cân bằng Nash. Nói cách khác, cân bằng Nash đạt được nếu như thay đổi một cách đơn phương của bất cứ ai trong số các đối thủ cũng sẽ làm cho chính người đó thu lợi ít hơn mức có được với chiến lược hiện tại. Khái niệm này áp dụng cho những trò chơi gồm từ hai đối thủ trở lên và Nash đã chi ra rằng tất cả các khái niệm khác nhau về giải pháp (solution) trong các trò chơi được đưa ra trước đó đều có cân bằng Nash.
Một ví dụ đơn giản [2]: trong một trò chơi gồm hai đối thủ cùng chọn song song một số bất kỳ từ 0 đến 10. Người nào chọn số lớn hơn sẽ thua và phải trả tiền cho người kia. Trò chơi này chỉ có 1 cân bằng Nash duy nhất: cả hai đối thủ đều chọn số 0. Bất kỳ sự lựa chọn nào khác (mà không biết sự lựa chọn của đối thủ kia) cũng có thể làm đối thủ thua cuộc. Khi thay đổi luật chơi: mỗi đấu thủ sẽ được hưởng số tiền bằng con số mà cả hai cùng chọn, nếu không chọn trùng nhau thì không ai có tiền, ta sẽ có 11 cân bằng Nash.
Một trò chơi có thể có nhiều hoặc không có cân bằng Nash. Nash cũng chứng minh rằng nếu cho phép các chiến lược hỗn hợp (mixed strategies) tức là các đối thủ chọn ngẫu nhiên các chiến lược dựa vào khả năng đã được ấn định trước, thì bất cứ một trò chơi với n đối thủ nào trong đó mỗi đối thủ có thể chọn trong giới hạn cho trước nhiều chiến lược sẽ có ít nhất 1 cân bằng Nash của các chiến lược hỗn hợp.
Ví dụ với Trò chơi Phối hợp (Coordination Game) [2]. Đây là trò chơi ma trận đôi cổ gồm 2 đối thủ A và B. A thường ở bên trái (tương ứng với số đầu tiên trong cặp số), B thường ở phía trên (tương ứng với số thứ hai trong cặp số). Trò chơi phối hợp trong việc lái xe. Có thể chọn lái bên trái hoặc bên phải với 1 tức là không gây tai nạn và 0 tức là gây tai nạn.
B
Trái Phải
A Trái 1,1 0,0
Phải 0,0 1,1
Trong trường hợp này, ta thấy có 2 cân bằng Nash khi cả 2 cùng chọn hoặc lái bên trái hoặc lãi bên phải.
Ví dụ với Song đề Tù nhân (Prisoner’s dilemma) [2]. Song đề này minh hoạ sự mâu thuẫn giữa hành vi cá nhân có năng lực suy đoán và lợi ích của việc hợp tác. Vấn đề mấu chốt là mỗi đối thủ đều cố gắng tối đa hoá lợi ích của mình mà không quan tâm tới lợi ích của những người khác, tức là đối thủ có tính ích kỷ. Song đề tù nhân có 1 cân bằng Nash khi cả 2 đối thủ đều không tôn trọng giao ước. Tuy nhiên cả 2 đều sai rõ ràng không bằng cả hai cùng hợp tác. Chiến lược hợp tác không bền vì một đối thủ có thể làm tốt hơn bằng cách không tôn trọng giao ước trong khi đối thủ của anh ta vẫn hợp tác.
Cân bằng Nash giúp làm rõ sự phân biệt giữa các trò chơi hợp tác và không hợp tác. Các trò chơi hợp tác có những thoả thuận có thể được áp đặt bời toà án chẳng hạn. Trong các trò chơi không hợp tác không tồn tại cơ chế thoả thuận như vậy. Và vì thế chỉ có các thoả thuận cân bằng được duy trì. Một hướng lý thuyết trò chơi mới được mở đường bằng cân bằng Nash xoá bỏ sự phân biệt này bằng cách xoá bỏ các cơ chế áp đặt có liên quan trong mô hình trò chơi, từ đó các trò chơi được mô hình hoá với tính chất không hợp tác.
Lý thuyết kinh tế về đấu giá [3] cũng là một trong những áp dụng lớn của cân bằng Nash và lý thuyết trò chơi. Trước kia, các nhà kinh tế thường chỉ phân tích thị trường thông qua cung và cầu hàng hoá mà không chú trọng tới quy luật của “trò chơi” làm cho các hình thức đấu giá trở nên khác biệt với nhau và với các hình thức thị trường khác (thị trường chứng khoán, siêu thị…). Ngày nay nghiên cứu đấu giá thường dựa trên cân bằng Nash của các quy luật đấu giá.
P. Ordeshook [4] Giáo sư chính trị học, Học viện công nghệ California, tác giả cuốn “Lý thuyết trò chơi và lý thuyết chính trị” đã viết: “Khái niệm cân bằng Nash có lẽ là ý tưởng quan trọng nhất trong lý thuyết trò chơi không hợp tác… dù trong việc phân tích chiến lược ứng viên / bầu cử, phân tích nguyên nhân chiến tranh, …, hay hành động của các nhóm quyền lợi, dự báo về các sự kiện đều thu lại trong việc tìm kiếm và mô tả các trạng thái cân bằng. Đơn giản hơn, các chiến lược cân bằng là những dự đoán về con người”.
Trong thế kỷ 19, các nhà khoa học khác đã sử dụng lý thuyết cân bằng như Maxwell, Walrus, Gibbs. Đầu thế kỷ 20, cân bằng kinh tế và hoá học được sử dụng bởi van der Waals, Onnes, Keynes trước khi được Nash sử dụng. Nhiều nhà khoa học khác đã bổ sung cho lý thuyết của Nash trong thập kỷ 50 và 60 như Selten, Harsanyi, và tiếp túc khám phá các khả năng khác nhau của Lý thuyết cân bằng tổng thể (General Equilibrium Theory – GET) từ thập kỷ 70 tới thập kỷ 90, trong đó có Arrow, Hicks, và Debreu. Lý thuyết này vẫn được giảng dạy trong các trường đại học ngày nay.Lý thuyết của Nash đã trở thành một hệ thống giải thích và chứng minh đa dạng hơn rất nhiều so với khái niệm ban đầu của tác giả. Hệ thống ấy đang ngày một phát triển trong xã hội, ở cả những nơi mà Nash có lẽ không bao giờ nghĩ đến.
______________________________________________________
[1] “Game Theory: An Introductory Sketch”, Dr. William King.
[2] Wikipedia Encyclopedia.
[3]“The Nash Equilibrium: A Perspective”, Charles A. Holt and Alvin E. Roth, University of Virginia and Harvard University.
[4] ISCID Encyclopedia of Science and Philosophy.
Giới thiệu sơ lược về kế toán
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 2004
Kế toán đơn giản là thông tin. Nhiệm vụ của kế toán viên là cung cấp thông tin cho những người sử dụng khác nhau như các cổ đông, ngân hàng đối tác, các nhân viên cao cấp để đưa ra các quyết sách kinh tế. Những người này sử dụng thông tin với các mục đích khác nhau. Các cổ đông cần thông tin để xác định nên mua hay bán cổ phiếu, ngân hàng cần thông tin để đánh giá các khoản nợ của khách hàng, các nhà lănh đạo công ty cần thông tin để quyết định các hoạt động kinh doanh. Kế toán cũng được các cá nhân sử dụng nhằm theo dõi các khoản chi thu, nhằm xác định thời điểm hợp lý để đầu tư vào thị trường chứng khoán hay đầu tư mua bất động sản, và có thể nhằm xác định các khoản nghĩa vụ thuế phải nộp. Vậy đó, kế toán tồn tại khắp nơi, trong mọi lĩnh vực.
Có thể thấy rằng thông tin kế toán dành cho hai bộ phận người sử dụng phân biệt. Thứ nhất là người sử dụng nội bộ, những người thuộc tổ chức công ty, sử dụng thông tin kế toán nhằm quản lý tổ chức và điều hành kinh doanh. Chẳng hạn như một giám đốc cần kiểm soát lượng tồn kho, xác định lỗ lãi, bảo đảm tài sản, lập ngân sách… Thứ hai là người sử dụng bên ngoài, những người không thuộc tổ chức công ty. Đó có thể là các cổ đông, là cơ quan thuế, là ngân hàng, các nhà phân tích tài chính, nhà cung cấp, khách hàng…
Nói một cách khái quát, kế toán là một công cụ để nhận dạng, đo lường và truyền thông tin về các đối tượng kinh tế nhằm phục vụ cho việc đưa ra các quyết sách kinh tế.
Các bản ghi kế toán đã xuất hiện từ năm 8500 trước công nguyên ở Trung Á, viết bằng đất sét thể hiện các hàng hoá như bánh mỳ, dê, quần áo… Bản ghi này được gọi là bullae, một dạng hoá đơn ngày nay. Bullae được gửi cùng với hàng hoá nhằm giúp người nhận kiểm tra lại chất lượng và giá cả của số hàng mình nhận được. Lúc này vẫn chưa có hệ số đếm khác nhau cho đến năm 850 trước công nguyên, hệ số đếm Hindus-Arabic ra đời và được sử dụng cho đến ngày nay.
Việc giữ các bản ghi vẫn chưa được hình thức hoá cho tới mãi thế thứ 13, xuất phát từ các giao dịch kinh doanh và ngân hàng tại Florence, Venice and Genoa. Tuy nhiên, các tài khoản không thực sự thể hiện được bản chất nghiệp vụ giao dịch và hiếm khi cân đối.
Hệ thống kế toán kép được đưa ra ở Genoa làm cho việc lưu giữ các bản ghi có hệ thống hơn. Hệ thống này buộc các nghiệp vụ đơn phải được ghi 2 lần vào bên nợ (debit) và bên có (credit), được giới thiệu chính thức bởi Luca Pacioli trong cuốn Summa de Arithmetica, Geimetrica, Proportioni et Proportionalita năm 1494. Từ đó, ngành kế toán đã phát triển vượt bậc. Hệ thống kế toán kép đã trở thành nguyên tắc cơ bản cho thế giới kế toán ngày nay và Luca Pacioli được coi là cha đẻ của ngành kế toán. Về sau, có thêm các nghiên cứu khác như “How To Keep a Perfect AcCompte Of Debitour and Creditour” của James Peele năm 1553, “English System Of Book Keeping” của Edward Jones năm 1795.
Cho đến này, ý tưởng cơ bản của kế toán không thay đổi là bao so với các doanh nhân ở Genoa ngày ấy. Sự thay đổi lớn nằm ở các phương thức lưu bút toán. Máy tính và các phương tiện hiện đại khác đã giúp cho việc bút toán trở nên dễ dàng hơn và các thông tin về các đối tượng kinh tế cũng trở nên kịp thời và đáng tin cậy hơn.
Trung Quốc: Muốn trở thành phòng thí nghiệm toàn cầu
Theo L’Express
Trịnh Minh Giang
TBKTSG Số 43 (723) | 21.10.2004
Trung Quốc đang chuẩn bị cho một cuộc cách mạng mới – cách mạng công nghệ cao. Và điều này đang diễn ra trong các trường đại học, trung tâm nghiên cứu cũng như các công ty, xí nghiệp. Trong khuôn viên Đại học Phúc Đán tại Thượng Hải, cuộc cách mạng duy nhất mà giảng viên và sinh viên đang chuẩn bị thực hiện là cuộc cách mạng hiện đại hóa. Đây đó thấy dán các thông báo cho biết một giáo sư kinh tế người Hà Lan sẽ nói chuyện về năng suất, đổi mới và việc tạo ra các giá trị mới.
Giống đại học nước ngoài
Đại học Phúc Đán, do một giáo sư thiên văn học tốt nghiệp Đại học Austin, Texas, điều hành. Không khí tại đây giống như ở Đại học Berkeley hoặc Đại học Cambridge.
Để thu hút các giảng viên danh tiếng, ngân sách của Phân khoa Khoa học và Công nghệ của Phúc Đán đã tăng gấp mười lần trong vòng thập kỷ qua. Jin Li, chẳng hạn, một chuyên gia về gen, đã từ Đại học Cincinnati chuyển về Phúc Đán, với lương 1 triệu nhân dân tệ/năm, gấp đôi lương của một giáo sư đại học Pháp. Hiện ông là người đứng đầu Viện Nghiên cứu về khoa học đời sống của Phúc Đán. Giám đốc Viện Tin học của Phúc Đán, từ Mỹ trở về, cũng được hậu đãi như vậy.
Các giảng viên ở Phúc Đán đã hưởng lương cao gấp 10 đến 20 lần so với mức lương của 10 năm trước đây.
Riêng với 24.000 sinh viên hiện nay thì được sử dụng máy tính riêng và nhiều phòng thí nghiệm mới toanh. Họ cũng chẳng phải lo lắng gì nhiều về việc làm sau khi ra trường. Vì các doanh nghiệp Trung Quốc và phương Tây đều tuyển dụng những người tốt nghiệp đại học danh tiếng sắp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập này.
Nền khoa học của Trung Quốc đã thực hiện được một bước nhảy vọt vào tháng 10-2003, khi cho ra đời Thần Châu V. Thế giới đã sửng sốt khi khám phá ra rằng Trung Quốc có thể đưa người lên vũ trụ, rằng nhà máy sản xuất đủ loại sản phẩm cho thế giới cũng đang muốn trở thành một phòng thí nghiệm toàn cầu.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã xếp Trung Quốc đứng hàng thứ ba trên thế giới về chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển, chỉ sau Mỹ và Nhật.
Đẩy mạnh nghiên cứu
Các sản phẩm công nghệ cao của Trung Quốc đã vươn lên, chiếm lĩnh thị trường thế giới. Năm ngoái, chỉ riêng Tech-Front của Thượng Hải (do người ở Đài Loan đầu tư) đã bán ra khoảng 10 triệu máy tính.
Thượng Hải – Nam Kinh đã trở thành một hành lang công nghiệp dài 300 ki-lô-mét với đầy những nhà máy và hàng núi container. Nằm ở khoảng giữa của hành lang đó là thị trấn Thường Châu với 4 triệu dân. Đây là nơi Shinco đặt trụ sở. Shinco đang đứng đầu Trung Quốc về DVD, sản xuất ra mỗi năm hàng triệu đầu máy. Sản phẩm của công ty đã có mặt tại các siêu thị như Wal-Mart hay Carrefour dưới nhãn hiệu Shinco, Thomson hoặc Toshiba.
Điểm mới ở Shinco là việc đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu tại một cơ sở nằm cách nhà máy vài cây số. Tại đây, 250 kỹ sư và kỹ thuật viên đang nghiên cứu các sản phẩm của các đối thủ và tạo ra các sản phẩm mới.
Matthieu Pélissie, thuộc hãng nghiên cứu McKinsey, nhận xét rằng sau khi xuất khẩu hàng hóa với giá rẻ, Trung Quốc ngày nay đang muốn leo dần lên những bậc thang cao. Theo ông, trong ngành sản xuất truyền hình chẳng hạn, Công ty TCL của Trung Quốc hoàn toàn đủ sức để cạnh tranh với Sony và Matsushita.
Thật vậy, Trung Quốc không muốn dừng lại ở xuất khẩu đồ chơi và áo gió. Nước này đang đẩy mạnh việc xuất khẩu các sản phẩm điện tử và sản phẩm cao cấp. Theo OECD, giá trị hàng công nghệ cao bán ra nước ngoài của Trung Quốc đã tăng từ 9 tỉ đô-la Mỹ của năm 1992 lên tới 64 tỉ năm 2001.
Sử dụng nhân lực nước ngoài
Khoảng 39 triệu máy tính, chiếm hơn một phần tư số máy tính được xuất xưởng hàng năm trên thế giới, do các nhà máy Trung Quốc sản xuất. Nhưng đây mới chỉ là sự khởi đầu. Dự kiến, đến năm 2008, Trung Quốc sẽ cung cấp cho thế giới 90 triệu máy tính mỗi năm. Và không có lĩnh vực nào không đi theo xu hướng này.
Các nỗ lực trên phương diện tài chính cũng đáng được đề cập đến. Từ năm 1991 đến năm 2002, tiền của do Trung Quốc đổ vào nghiên cứu và phát triển đã tăng từ 0,7% GDP lên 1,3% GDP. Nỗ lực này được OECD đánh giá cao. Tuy nhiên, tài chính không phải là át chủ bài duy nhất của người Trung Quốc. Hành động nhanh nhạy cũng giúp cho họ xóa dần khoảng cách tụt hậu.
Trong chuyến thăm Paris tháng 10-2003, một lãnh đạo Trung Quốc đã đề nghị Pháp giúp thành lập Viện Pasteur tại Thượng Hải. Và hiện nay, công việc đã được triển khai.
Chính phủ Trung Quốc còn không ngần ngại tìm kiếm nguồn nhân lực nước ngoài khi trong nước không đáp ứng được yêu cầu. Để tuyển dụng đội ngũ cán bộ tương lai cho Viện Pasteur, họ đã yêu cầu phía Pháp đăng tìm người trên tạp chí Nature của Mỹ, tờ báo uy tín nhất hiện nay về sinh học và dược học.
Cũng tương tự như vậy, vào tháng 12-2003, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các biện pháp mạnh nhằm tìm người có khả năng điều hành một viện sinh học vừa được thành lập ở Quảng Đông. Cuộc tuyển dụng này mang tính quốc tế; hội đồng tuyển dụng gồm có hai nhà khoa học đoạt giải Nobel và một giáo sư người Pháp. Cuối cùng, vị trí giám đốc đã được trao cho Chen Ling, lúc đó đang là Giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Thí nghiệm Merck (Mỹ).
Những điều nói trên chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Từ năm 1978, Trung Quốc đã cho phép 700.000 thanh niên đi học tập ở nước ngoài. Và nay thì khuyến khích họ trở về, hứa sẽ trả lương cao, dành nhiều tiền cho nghiên cứu, và tạo điều kiện sống dễ chịu. Nhờ chính sách ưu đãi đó cộng thêm lòng yêu nước sẵn có, danh sách những người xin về ngày một dài ra.
Ngoài các chuyên gia gốc Trung Quốc từ nước ngoài trở về, các doanh nghiệp tại Trung Quốc còn có thể sử dụng một nguồn nhân lực nội địa có chuyên môn nhưng ít tốn kém. Đó là số nửa triệu kỹ sư và kỹ thuật viên tốt nghiệp các trường đại học và cao đẳng hàng năm trên khắp Trung Quốc.
Hiện nay, tất cả các tập đoàn đa quốc gia đều đặt cơ sở nghiên cứu tại Trung Quốc. Công ty Alcatel, chẳng hạn, đang sử dụng 1.600 nhân viên ở Thượng Hải. Hãng Danone Biscuits thì dùng một đội ngũ nghiên cứu 100% là người Trung Quốc.
Bà Kate Walsh, một nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Stimson (Washington), cho biết chỉ tính riêng trong các ngành viễn thông, tin học không thôi, từ năm 1990 đến năm 2002, cũng đã có đến 223 trung tâm nghiên cứu ra đời tại Trung Quốc.
Xu hướng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Có thể là nhằm đáp ứng yêu cầu của Chính phủ Trung Quốc, đang rất muốn được chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, Jacques Penhirin, Phó giám đốc văn phòng Mc Kinsey ở Thượng Hải, thì cho rằng các tập đoàn đặt cơ sở nghiên cứu và phát triển tại Trung Quốc “để phát triển sản phẩm đáp ứng thị hiếu bản xứ”.
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund)
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 30.07.2004
Về lịch sử hình thành, IMF được thai nghén từ phiên họp của Liên Hợp Quốc tháng 7 năm 1944 tại Bretton Woods, New Hampshire, Hoa Kỳ. 45 quốc gia thành viên có mặt trong phiên họp đã tìm kiếm một cơ cấu hợp tác kinh tế có thể tránh được sự lặp lại các chính sách kinh tế sai lầm từng dẫn tới cuộc Đại khủng hoảng thập kỷ 30.
Hiện nay IMF có 184 quốc gia thành viên. Số lượng nhân viên khoảng 2690 người hoạt động trên 141 nước.
Điều 1 của Hiệp ước thành lập IMF chỉ rõ trách nhiệm của Quỹ:
- Xúc tiến hoạt động hợp tác tiền tệ quốc tế;
- Tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển cân đối thương mại quốc tế;
- Duy trì ổn định hối đoái;
- Hỗ trợ thiết lập hệ thống thanh toán đa phương;
- Cung cấp nguồn lực (với độ an toàn cần thiết) cho các thành viên gặp khó khăn trong cán cân thanh toán.
Như vậy, IMF chịu trách nhiệm đảm bảo ổn định cho hệ thống tài chính và tiền tệ quốc tế, hệ thống thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền tạo điều kiện giao thương giữa các nước. IMF tìm cách duy trì ổn định và phòng ngừa khủng hoảng kinh tế; hỗ trợ giải quyết khủng hoảng một khi xảy ra; thúc đẩy phát triển và giảm đói nghèo. Quỹ sử dụng 3 chức năng chính là giám sát, hỗ trợ kỹ thuật và cho vay để thưc hiện các mục tiêu này.
IMF thức đẩy phát triển và duy trì ổn định kinh tế toàn cầu, qua đó phòng ngừa khủng hoảng kinh tế, bằng cách khích lệ các quốc gia thực hiện các chính sách kinh tế đúng đắn.
Giám sát là hình thức cố vấn chính sách thường xuyên của IMF đối với các nước thành viên. Mỗi năm, IMF đưa ra đánh giá chi tiết về tình hình kinh tế mỗi nước. Quỹ sau đó bàn luận với chính phủ các nước về các chính sách có lợi nhất trong việc duy trì tỷ giá ổn định và một nền kinh tế tăng trưởng và thịnh vượng. IMF cũng kết hợp thông tin từ các cuộc hội đàm đơn lẻ để đưa ra đánh giá chung về sự phát triển và triển vọng của từng khu vực cũng như của thế giới. Các báo cáo của IMF được xuất bản 2 năm một làn trong 2 tài liệu Tổng quan kinh tế thế giới (World Economic Outlook) và Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu (Global Financial Stability Report).
Việc giám sát bao quát một phạm vi chính sách kinh tế rộng lớn, tuy nhiên mỗi nước có một trọng tâm riêng tuỳ vào hoàn cảnh hiện tại.
- Tỷ giá hối đoái, tiền tệ và chính sách tài khoá luôn là trọng tâm chính của hoạt động giám sát. Các nhà nghiên cứu kinh tế của IMF đưa ra lời khuyên từ việc lựa chọn chế độ điều hành tỷ giá cho đến việc đảm bảo tính tương hợp giữa chế độ điều hành tỷ giá và lập trường đối với chính sách tài khoá và tiền tệ.
- Các chính sách về cấu trúc được đưa vào các hoạt động giám sát của IMF từ thập kỷ 80 khi tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước công nghiệp bị chậm lại do khủng hoảng dầu lửa lần thứ hai. Khủng hoảng nợ ở các nước đang phát triển và sự thay đổi thể chế chính trị ở một số nước đòi hỏi sự thay đổi lớn về cấu trúc. Cho đến nay, các cuộc hội đàm về cấu trúc giữa IMF và các nước thành viên thường xoay quanh thương mại quốc tế, thị trường lao động và cải cách khu vực năng lượng.
- Các vấn đề về khu vực tài chính được đưa vào các hoạt động giám sát của IMF từ thập kỷ 90 theo sau chuỗi khủng hoảng ngân hàng ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Năm 1999, IMF và WB quyết định thực hiện chương trình cùng đánh giá về khu vực tài chính FSAP ((Financial Sector Assessment Program) nhằm vào ưu nhược điểm của khu vực tài chính ở các nước. Nếu được thực hiện, FSAP luôn cung cấp các dữ liệu quan trọng trong việc giám sát của IMF.
- Các vấn đề thể chế như tính độc lập của các ngân hàng, quản lý khu vực tài chính, điều hành công ty và độ tin cậy và minh bạch của chính sách đã ngày càng trở nên quan trọng trong các hoạt động giám sát của IMF do các cuộc khủng hoảng tài chính và sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch sang cơ chế thị trường của một số nước thành viên. Vài năm trở lại đây, IMF và WB đã đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển, thực hiện và đánh giá các tiêu chuẩn và quy định được quốc tế công nhận ở các khu vực then chốt của nền kinh tế hiện đại.
- Đánh giá độ rủi ro và nhạy cảm của nền kinh tế. Việc phòng ngừa khủng hoảng cũng luôn là trọng tâm chính trong các hoạt động giám sát của IMF. Bên cạnh việc đánh giá tình trạng của tài khoản vãng lai và duy trì nợ nước ngoài, độ rủi ro và nhạy cảm của nền kinh tế còn bắt nguồn từ các luồng tài chính dễ bay hơi.
Các hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật cho các nước thành viên thường được IMF cung cấp miễn phí nhằm giúp những nước này củng cố khả năng thiết lập và thực hiện các chính sách hiệu quả. Hỗ trợ kỹ thuật được cung cấp trong một số lĩnh vực bao gồm chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái, giám sát và điều hành hệ thống tài chính ngân hàng và cuối cùng là số liệu thống kê.
Các hỗ trợ này được thực hiện bằng nhiều cách: có thể thông qua các nhân viên dưới hình thức công tác kỳ hạn hoặc bổ nhiệm chuyên gia từ vài tuần tới vài năm (nếu việc sử dụng chuyên gia kéo dài, các nước có thể được yêu cầu đóng góp tài chính). IMF cũng cung cấp các hỗ trợ dưới hình thức báo cáo chẩn đoán kỹ thuật (diagnostic), các khoá đào tạo, hội thảo, thảo luận chuyên đề, tư vấn trực tuyến từ trụ sở của Quỹ.
Các hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật được IMF triển khai theo vùng với hai trung tâm hỗ trợ kỹ thuật đã được thiết lập ở Thái Bình Dương và Caribbe. Trung tâm thứ 3 được mở tại Đông Phi vào năm 2002 với mục tiêu có 4 trung tâm khác tại vùng Hạ Sahara châu Phi. Bên cạnh việc cung cấp các khoá đào tạo tại trụ sở, IMF cũng tổ chức các khoá học và hội thảo tại các học viện hoặc chương trình của từng nước hoặc từng khu vực. Hiện nay IMF có 4 trung tâm đào tạo tại các khu vực Châu Mỹ La tinh (Brazil), Châu Phi (Tunisia), Singapore và Áo. IMF còn tổ chức các chương trình đào tạo song phương, đặc biệt là với Trung Quốc và Quỹ tiền tệ Arab (Arab Monetary Fund).
Trong trường hợp nước thành viên gặp khó khăn với cán cân thanh toán, IMF thực hiện chức năng của một Quỹ có thể rót vốn ưu đãi giúp hồi phục kinh tế.
Các hỗ trợ tài chính nhằm tạo ra cho các nước thành viên một khoảng an toàn cần thiết để tái ổn định cán cân thanh toán. Một chương trình thực hiện chính sách do IMF tài trợ được chính phủ nước thành viên thiết lập với sự hợp tác chặt chẽ của Quỹ. Các quyết định tài trợ tiếp theo được đưa ra với điều kiện chương trình được thực hiện hiệu quả.
Một nước thành viên có thể đề nghị hỗ trợ tài chính nếu không đủ khả năng tự tài trợ cho cán cân thanh toán quốc tế. Khoản vay của IMF tạo điều kiện cho việc điều chỉnh các chính sách và cải cách mà quốc gia đó cần phải làm để lành mạnh hoá cán cân thanh toán và hồi phục nền kinh tế.
Khoản vay của IMF được thực hiện dưới hình thức dàn xếp (arrangement) nhằm kiểm soát các chính sách và phương tiện mà nước đi vay đồng ý thực hiện để giải quyết khó khăn trong cán cân thanh toán. Chương trình kinh tế theo sau sự dàn xếp đó được nước sở tại xây dựng với sự tư vấn của IMF và trình cho Hội đồng thường trực của Quỹ dưới dạng thư đề nghị (Letter of Intent). Khoản vay sẽ được giải ngân cho chương trình nếu thư được Hội đồng điều hành thông qua.
IMF cũng hoạt động tích cực trong việc giảm đói nghèo cho các quốc gia trên thế giới một cách độc lập hoặc trong sự hợp tác với Ngân hàng thế giới WB (World Bank) và các tổ chức khác.
Trong những năm qua, IMF đã phát triển được nhiều công cụ cho vay (facility) phù hợp với từng tình trạng của mỗi quốc gia thành viên. Các nước nghèo có thể vay với lãi suất ưu đãi hỗ trợ phát triển và xoá đói nghèo PRGF (Poverty Reduction and Growth Facility) và sáng kiến hỗ trợ các nước nghèo đang mắc nợ nặng nề HIPC (Heavily Indebted Poor Countries Initiative) dựa trên các nghiên cứu về chiến lược giảm đói nghèo PRSP (Poverty Reduction Strategy Papers) do nước sở tại tiến hành dưới sự cố vấn của các tổ chức xã hội và các đối tác phát triển bên ngoài nhằm đưa ra một cơ cấu chính sách kinh tế xã hội toàn diện phục vụ cho việc thức đẩy phát triển và giảm đói nghèo. Khả năng vay của các nước thành viên phụ thuộc vào quota mà nước đó đóng góp cho IMF. Trong những năm gần đây, các khoản vay lớn nhất của IMF được thực hiện qua PRGF với lãi suất chỉ 0,5% và thời hạn từ 5,5 đến 10 năm.
Ngoại trừ PRGF, các công cụ cho vay khác của IMF đều sử dụng lãi suất thị trường, gọi là “rate of charge”, dựa trên lãi suất SDR (Special Drawing Rights). SDR được tạo ra từ hệ thống ngân hàng quốc tế nhằm giải quyết sự dao động quá lớn giữa các đồng tiền. Giải pháp từ năm 1974 được sử dụng là tạo ra một giá trị tham chiếu quốc tế thông qua một tập hợp tiền tệ (basket of currencies), từ đó sự thay đổi của một đồng tiền không làm sai lệch nhiều tỷ giá giữa các đồng tiền khác. Tập hợp tiền tệ này được giảm từ 16 xuống còn 5 đồng tiền được xác định lại 5 năm một lần. Từ năm 1999, tập hợp tiền tệ chỉ còn 4 đồng tiền. Để tính giá trị của SDR so với đồng bản tệ, ví dụ X, người ta lấy tổng tỷ giá của X trên các đồng tiền trong tập hợp tiền tệ. Lãi suất SDR được điều chỉnh hàng tuần theo thay đổi của lãi suất ngắn hạn trên các thị trường tiền tệ chính yếu. Rate of charge vào 30/4/2004 là 2,23%.
Các khoản cho vay không ưu đãi được cung cấp thông qua 4 công cụ: Stand-By Arrangements (SBA), Extended Fund Facility (EFF), Supplemental Reserve Facility (SRF) và Compensatory Financing Facility (CFF).
- SBA được thiết lập để giúp giải quyết khó khăn về cán cân thanh toán trong ngắn hạn và cung cấp nguồn lực lớn nhất của IMF. Độ dài của SBA thường từ 12 đến 18 tháng với thời hạn hoàn trả từ 2 năm 3 tháng đến 4 năm.
- EFF ra đời năm 1974 nhằm giúp đỡ các kho khăn kéo dài về cán cân thanh toán đòi hỏi cải cách cơ bản cơ cấu nền kinh tế. Các khoản dàn xếp thông qua EFF vì vậy kéo dài từ 3 năm trở lên với thời hạn hoàn trả từ 4 năm rưỡi đến 7 năm.
- SRF ra đời năm 1997 nhằm tài trợ ngắn hạn với quy mô lớn, xuất phát từ sự mất lòng tin thị trường đột ngột do các nền kinh tế mới nổi những năm 90 làm các luồng vốn đầu tư bị rút về hàng loạt, đòi hỏi sự hỗ trợ tài chính lớn hơn bất cứ hoạt động nào của IMF trước đó. Thời hạn hoàn trả vốn từ 1 năm rưỡi đến 2 năm, có thể yêu cầu gia hạn 6 tháng.
- CFF được thiết lập năm 1963 nhằm hỗ trợ các nước có giá trị xuất khẩu giảm tạm thời hoặc chi phí nhập khẩu ngũ cốc tăng lên do giá hàng hoá thế giới biến động. Các điều kiện khác gần giống như công cụ SBA.
Ngoài ra IMF cũng cung cấp các hỗ trợ khẩn cấp (emergency assistance) đối với các trường hợp gặp thảm hoạ thiên nhiên và xung đột vũ trang. Một vài trường hợp có thể được nhận cáck hoản cho vay ưu đãi. Thời hạn hoàn trả từ 3 năm 3 tháng đến 5 năm.
Tổ chức và điều hành IMF
IMF chịu trách nhiệm trước chính phủ của các quốc gia thành viên. Đứng đầu tổ chức là Hội đồng điều hành (Board of Governors) bao gồm một uỷ viên của mỗi nước. Các uỷ viên điều hành họp mỗi năm một lần tại Hội nghị hàng năm của IMF và Ngân hàng thế giới (World Bank). 24 uỷ viên điều hành thuộc Uỷ ban tài chính và tiền tệ quốc tế IMFC (International Monetary and Finance Committee) họp hai lần một năm. Hoạt động hàng ngày của IMF diễn ra tại trụ sở 700 19th St. NW, Washington, DC 20431 với 24 uỷ viên thuộc Hội đồng thường trực dưới sự dẫn dắt của IMFC và được sự hỗ trợ của bộ máy nhân viên IMF. Giám đốc điều hành (Managing Director) là người đứng đầu bộ máy nhân viên và là chủ tịch Hội đồng thường trực (Chairman of the Executive Board) với sự hỗ trợ của ba Phó giám đốc điều hành.
Nguồn vốn của IMF do các nước thành viên cung cấp theo chỉ tiêu (quota) dựa trên độ lớn của nền kinh tế mỗi nước. Tổng số chỉ tiêu là yếu tố quan trọng nhất quyết định khả năng cho vay của IMF. Chi tiêu hàng năm cho các hoạt động của Quỹ chủ yếu bằng hiệu số giữa lãi thu được từ các khoản cho vay (outstanding loans) và lãi phải trả từ các chỉ tiêu đóng góp (quota deposits).
Tổng chỉ tiêu đóng góp của IMF vào 31/12/2003 là 316 tỷ đôla. Tổng cho vay đối với 87 quốc gia là 107 tỷ, trong đó có từ 10 đến 60 tỷ đang giải ngân. 356 chuyên gia đã được sử dụng trong các dự án hỗ trợ kỹ thuật, 136 nước được hỗ trợ giám sát trong năm tài khoá 2003.
(Tổng hợp & dịch)
Ngân hàng thế giới WB (World Bank)
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 30.08.2004
Nhiệm vụ của Ngân hàng thế giới WB (World Bank) được ghi rõ trên nhiều tài liệu của Ngân hàng: chống đói nghèo và cải thiện mức sống cho người dân ở các nước đang phát triển. WB cung cấp các khoản cho vay, các dịch vụ cố vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và chia sẻ kiến thức cho các nước có thu nhập quốc dân trung bình và dưới mức trung bình. WB thúc đẩy tăng trưởng nhằm tạo việc làm và giúp người nghèo có được các cơ hội việc làm ấy.
Tổng thu nhập của thế giới là hơn 31 ngàn tỷ đôla Mỹ mỗi năm, trong đó có những nước thu nhập bình quân đầu người đạt tới 40 ngàn đôla Mỹ. Thế nhưng 2,8 tỷ dân số thế giới, với hơn một nửa thuộc các nước đang phát triển, đang sống với mức thu nhập dưới 700 đôla Mỹ. Gần một nửa trong số họ, 1,2 tỷ người, chỉ kiếm được chưa đầy 1 đôla Mỹ mỗi ngày.
Công việc của WB là làm cầu nối cho trên hố sâu ngăn cách giàu nghèo này, hướng các nguồn lực từ các nước giàu vào sự phát triển của các nước nghèo. WB hỗ trợ các nỗ lực của chính phủ các nước phát triển trong việc xây dựng trường học và trung tâm y tế, cung cấp điện nước, phòng chống bệnh tật và bảo vệ môi trường. Năm 2003, WB đã cung cấp 18,5 tỷ đôla Mỹ và hoạt động trên hơn 100 nước đang phát triển, hỗ trợ các nước này trên cả phương diện tài chính và kỹ thuật để giảm đói nghèo.
Với bản chất là một cơ quan đặc biệt của Liên hợp quốc với 184 nước thành viên, WB được thành lập trong Đại chiến thế giới thứ 2 tại hội nghị Bretton Woods, New Hampshire, 1-22/7/1944, với mục đích ban đầu là khôi phục châu Âu sau chiến tranh. Khoản cho vay đầu tiên của WB trị giá 250 triệu đôla Mỹ dành cho Pháp vào năm 1947. Ngày nay, tái thiết vẫn là trọng tâm hàng đầu của WB cho các nền kinh tế đang phát triển hoặc đang chuyển đổi bị ảnh hưởng bởi thảm hoạ tự nhiên, xung đột vũ trang, cũng như trong các hoạt động nhân đạo khẩn cấp. Tuy nhiên trọng tâm chính yếu của WB hiện tại hướng vào việc giảm đói nghèo. Từ một tổ chức có trụ sở duy nhất tại Washington, D.C. với đội ngũ kỹ sư và nhà phân tích tài chính đồng đều, WB giờ đây đã có đội ngũ nhân viên đa dạng với trình độ đa ngành gồm các nhà kinh tế học, các chuyên gia chính sách công, chuyên gia chuyên ngành, các nhà khoa học xã hội. 40% trong số họ đang làm việc tại các văn phòng của WB tại các nước trên thế giới.
WB ngày một lớn mạnh và trở thành một hệ thống phức hợp dưới hình thức tập đoàn (Group) gồm 5 tổ chức phát triển: Ngân hàng tái thiết và phát triển IBRD (International Bank for Reconstruction and Development), Hiệp hội phát triển quốc tế IDA (the International Development Association), Công ty tài chính quốc tế IFC (International Finance Corporation), Cơ quan bảo đảm đầu tư đa phương MIGA (Multilateral Investment Guarantee Agency), và Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế ICSID (International Centre for Settlement of Investment Disputes).
IBRD, tiền thân của WB, cung cấp các khoản cho vay đối với các chính phủ và doanh nghiệp nhà nước cùng với sự bảo đảm của chính phủ (hoặc bảo đảm tối cao – sovereign guarantee). Nguồn tiền cho vay được lấy từ các khoản nợ đã được trả và thông qua việc phát hành trái phiếu trên thị trường vốn thế giới. IBRD là một trong những tổ chức cho vay được xếp hạng cao nhất trên thị trường quốc tế và vì vậy có khả năng cho vay với mức lãi suất tương đối thấp. Ngân hàng cho các nước vay với lãi suất rất hấp dẫn bằng cách thêm một mức lề (khoảng 1%) vào chi phí cho vay để trang trải các chi phí hành chính.
IDA có nhiệm vụ giúp đỡ các nước nghèo nhất thông qua các khoản cho vay với lãi suất ưu đãi và các chương trình tài trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện điều kiện sống. Các khoản cho vay dài hạn không lấy lãi của IDA dành cho các chương trình xây dựng chính sách, định chế, hạ tầng cơ sở và nguồn nhân lực cần thiết cho phát triển bền vững trên cơ sở tôn trọng môi trường và công bằng xã hội.
IFC, với 176 thành viên, thúc đẩy đầu tư bền vững vào khu vực tư nhân ở các phát triển với múc đích giảm đói nghèo và tăng chất lượng cuộc sống người dân thông qua việc cung cấp tài chính cho các dự án thuộc khu vực tư nhân, hỗ trợ các công ty tư nhân lưu chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế và cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật cho các chính phủ và doanh nghiệp.
Nhiệm vụ của MIGA là xúc tiến đầu tư nước ngoài trực tiếp FDI vào các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và cải thiện cuộc sống người dân. Với tư cách một nhà bảo hiểm quốc tế cho các nhà đầu tư tư nhân và nhà tư vấn cho các nước về đầu tư nước ngoài, MIGA tham gia xúc tiến các dự án với tác động phát triển bền vững lớn nhất bảo đảm các tiêu chí kinh tế, môi trường và xã hội.
ICSID thực hiện hoà giải và trọng tài giữa các nước thành viên và các nhà đầu tư thuộc các nước thành viên khác. Việc sử dụng các phương tiện của ICSID là hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên, một khi đã đồng ý giải quyết với ICSID, không bên nào được đơn phương từ chối phán quyết của ICSID.
Trong thập kỷ 80, WB đã phải chịu áp lực từ nhiều phía. Vào đầu thập kỷ, Ngân hàng phải đối mặt với các vấn đề kinh tế vĩ mô và gia hạn nợ. Đến cuối thập kỷ, các vấn đề xã hội và môi trường nổi lên cùng với sự chỉ trích mạnh mẽ từ phía xã hội cho rằng WB đã không kiểm soát tốt các chính sách của chính mình trong một số dự án quan trọng.
Để đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động của Ngân hàng, báo cáo Wapenhans đã được thực hiện và dẫn tới cuộc cải cách ngay sau đó với việc thành lập Ban giám sát (Inspection Panel) nhằm điều tra các chỉ trích đối với WB. Tuy nhiên, chỉ trích vẫn tăng lên, cực điểm là năm 1994 tại Hội nghị thuờng niên ở Madrid, Tây Ban Nha.
Từ đó, WB đã có nhiều tiến triển vượt bậc. 5 tổ chức, định chế, vừa thực hiện độc lập vừa kết hợp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động cho Ngân hàng. Báo cáo cho thấy khách hàng hầu hết hài lòng với sự thay đổi trong các cấp dịch vụ của WB, trong sự tham gia của Ngân hàng vào hiệu quả hoạt động của khách hàng cũng như trong chuyển giao và chất lượng.
Hơn bao giờ hết, WB đang giữ vai trò quan trọng trên trường quốc tế. Ngân hàng đã gắn bó chặt chẽ với các đối tác và khách hàng trong các trường hợp khẩn cấp, từ việc tái thiết sau xung đột Bosnia đến hỗ trợ hậu khủng hoảng Đông Á, từ cứu trợ sau thảm hoạ Trung Mỹ, động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ tới Kosovo và Đông Timor. Vùng với 189 nước thành viên hiện nay và nhiều tổ chức khác, WB đang thực hiện mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ mới (Millennium Development Goals) cho đến năm 2015 bao gồm các vấn đề giáo dục, sức khoẻ và vệ sinh.
(Tổng hợp & dịch)
Công thức AIDA (AIDA formula)
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 30.12.2004
AIDA (Attention, Interest, Desire và Action) là một trong những công thức quan trọng nhất của lý thuyết tiếp thị. Công thức này giúp bạn tập trung vào quá trình biến một người không biết gì về sản phẩm hay dịch vụ của mình thành khách hàng. A: Attention (thu hút sự chú ý), I: Interest (gây dựng mối quan tâm), D: Desire (tạo sự ham muốn), A: Action (dẫn đến hành động Mua).
Theo một nghiên cứu của Hollywood, người ta cần 7 lần gặp lại thông điệp để nắm bắt được thông tin và từ đó đưa ra quyết định mua. Lần đầu tiên bắt gặp một thông điệp quảng cáo, người ta ít khi chú ý đến nó. Lần thứ 2, sự chú ý có thể tăng thêm đôi chút với câu hỏi “Cái gì thế nhỉ?”. Lần thứ 3 bắt gặp, thông điệp sẽ thực sự được chú ý “Thì ra ý nghĩa là vậy!”. Lần thứ tư, người ta sẽ bắt đầu quan tâm “Trông cũng có vẻ hay”. Lần tiếp theo, thứ 5, sự quan tâm tăng dần “Dùng cái này chắc hẳn là hay đây”. LẦn thứ 6, quan tâm đã chuyển sang ham muốn “Tôi muốn dùng thử cái đó”. Lần thứ 7 sẽ tác động tới quyết định “Tôi sẽ mua nó”.
Nghiên cứu này chứng minh để áp dụng công thức AIDA, nhà tiếp thị cần sử dụng việc lặp đi lặp lại các thông điệp quảng cáo. Hồi bé để nhớ được bản cửu chương bạn có thể làm gì ngoài việc nhắc đi nhắc lại nhiều lần! Số điện thoại cũng vậy, bạn sẽ chỉ nhớ những số mà bạn gọi tới nhiều lần. Vì vậy đừng nghĩ rằng một chiến dịch tiếp thị chốc lát trong một thời điểm sẽ giúp bạn bán được hàng, niềm tin ấy sẽ chỉ làm bạn tốn kém tiền bạc và công sức. AIDA đặc biệt cần thiết trong quảng cáo, nhất là trong lựa chọn thông điệp quảng cáo.
A – Attention. Tiêu đề thông điệp quảng cáo phải thu được sự chú ý của người đọc. Phải làm người ta thấy lý thú khi lướt qua nó. Hãy cố gắng làm cho thông điệp ẩn chứa bên trong một mối quan tâm chung tuy nhiên phải bảo đảm tính trung thực. Ví dụ quảng cáo cho một sản phẩm bảo hiểm: “Con bạn sẽ trở thành triệu phú”. Có thể sử dụng hình ảnh minh họa để thu hút sự chú ý.
I – Interest. Hãy làm cho khách hàng tiềm năng thấy những lợi ích mà họ có được nếu sử dụng hàng hóa hay dịch vụ của bạn. Ghi nhớ rằng khách hàng mua lợi ích chứ không mua đặc trưng của sản phẩm hay dịch vụ. Làm thế nào để các lợi ích khi mua hàng được nhận thấy ngay. Ví dụ một sản phẩm cho vay của ngân hàng: “Mua căn nhà bạn muốn với lãi suất thấp nhất”.
D – Desire. Hãy làm cho lời chào mời trở nên không thể cưỡng lại được. Thêm những món quà tặng ngay cả khi khách trả lại hàng và đi kèm với bảo hành miễn phí. Thêm các tình tiết khẩn cấp vào thông điệp, ví dụ như “Quà tặng cho khách hàng đặt hàng trước ngày Chủ Nhật” hay “Mua 2 tặng 1″. Không chỉ làm cho khách hàng biết là bạn có thể thỏa măn nhu cầu của họ, hãy chứng minh điều đó.
A – Action. Ghi nhớ là trọng tâm chính của bạn là kích thích khách ra quyết định mua hàng. Sau khi đã thu được sự chú ý, gây ra mối quan tâm tới lợi ích và tạo được sự ham muốn thông qua quà tặng và dịch vụ bảo hành tốt, bạn phải làm cho khách ra quyết định mua hàng. Cần tạo điều kiện cho việc mua hàng, chẳng hạn như chấp nhận tất cả các phương thức thanh toán: séc, thẻ tín dụng, tiền mặt, phiếu mua hàng…, sao cho khách cảm thấy tiếc nếu họ không mua.
Chuyên gia tiếp thị Steve Atlas đưa ra một ví dụ về AIDA trong việc chào bán xe ô tô. Để thu hút sự chú hãy sử dụng các từ ngữ như: “Rẻ nhất”, “Tốt nhất”… Sau khi dã thu được sự chú ý phần nào của khách, việc tiếp theo là cần phát triển sự quan tâm của họ. Cho họ biết lợi ích mà họ sẽ được hưởng nếu mua sản phẩm của bạn. Tự đặt câu hỏi “Mua sản phẩm này cuộc sống của tôi có tốt đẹp được hơn chút nào không?”. Người ta mua hàng không theo những lý do lôgíc mà bởi họ muốn mua. Tôi mua xe đắt tiền không phải bởi tôi muốn thêm xe mà thực chất tôi muốn được mọi người kính nể. Hãy tạo ra sự ham muốn bằng cách cho khách hàng biết rằng nếu họ mua xe này, họ sẽ được ngưỡng mộ. Một lý do khác để mua một chiếc xe đắt tiền là tiện nghi trong xe. Hãy kích thích sự thích thú được ngồi trong một chiếc xe như vậy: máy chạy êm, âm thanh đa chiều, hệ thống định vị toàn cầu… Một chiếc xe đặc biệt, không giống xe của người khác và để có được nó, hãy nói với khách rằng họ chỉ phải bỏ ra thêm chút tiền nữa thôi.
Bước cuối cùng trong công thức AIDA là làm cho khách mua hàng ngay. Sẽ có ít người muốn mua ngay nếu bạn không thôi thúc họ. Cách hay nhất là tạo ra các thời hạn nhất định. Cho khách biết rằng họ cần mua ngay ngày hôm nay để được hưởng giá ưu đãi, ngay mai nó sẽ đắt hơn đấy. Hãy nói với khách hàng rằng họ đang đi đúng hướng và việc trì hoãn quyết định sẽ là một sai lầm. Cuộc sống thì ngắn ngủi và ngày mai sẽ chẳng giống hôm nay.
(Tổng hợp)
Chất lượng – độ thoả mãn khách hàng
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 2004
Ở mức độ đơn giản nhất, chất lượng trả lời hai câu hỏi: “Người ta cần cái gì?” và “Cái đó làm như thế nào?”. Có thể thấy là chất lượng mang ý nghĩa của quá trình, tất cả các hệ thống, công cụ quản lý chất lượng đều nhằm xác định, đo lường, cải thiện và tái cấu trúc quá trình để đảm bảo rằng người ta đạt được điều mà mình muốn.
Trong kinh doanh, chất lượng là nhận thức của khách hàng về một hàng hoá hay dịch vụ có phù hợp với mục đích của họ hay không và hàng hoá và dịch vụ đó thoả mãn các tiêu chí quy ước hay ngầm định như thế nào. Quản lý chất lượng nhằm đạt được độ thoả mãn cao nhất từ phía khách hàng với tổng chi phí ở mức thấp nhất có thể. Quản lý chất lượng đem lại nỗ lực đạt được mục tiêu chung, cải thiện mối quan hệ nội bộ, phát triển kỹ năng công việc, thúc đẩy phát triển nghề nghiệp, vượt qua sự mong đợi của khách hàng, tối đa hiệu quả công việc và kích thích khả năng sáng tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nếu như công ty cho khách hàng điều mà họ muốn? Nếu như họ thoả mãn? Tốt thôi. Tuy nhiên nếu điều đó làm cho công ty thua lỗ vì chi phí quá cao? Rõ ràng lúc này công ty đã sai lầm. Công việc kinh doanh cần có khách hàng cùng với sản phẩm và dịch vụ có thể thoả mãn họ, nhưng chưa đủ. Công việc kinh doanh còn phải thoả mãn chính những người đang thực hiện nó. Hiệu quả và hiệu suất luôn được nhắc tới khi định nghĩa chất lượng. Hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu từ phía khách hàng, hiệu suất nhằm giảm chi phí đáp ứng yêu cầu của cổ đông, những người bỏ vốn. Chất lượng còn thể hiện ở độ thoả mãn đối với nhân viên, những người trực tiếp tạo nên sản phẩm và dịch vụ.
Ngày nay, chất lượng dần được chuẩn hoá, thực chất là hệ thống hoá các quy trình sản xuất nhằm đảm bảo độ thoả mãn của tất cả các bên. Không ai còn xa lạ với những tiêu chuẩn ISO9000, ISO14000 hay SR8000… Các chuẩn mực quốc tế này nhằm đảm bảo chất lượng, tính tương thích, độ an toàn của sản phẩm hay dịch vụ, góp phần tăng độ tin cậy cho sản phẩm cũng như giảm thiểu các chi phí phát sinh.
(Tổng hợp)
Nhiệm vụ của chuyên viên tiếp thị
TRỊNH Minh Giang
vietmanagement.com | 2004
Chuyên viên tiếp thị có thể quyết định từ việc thiết kế kiểu dáng cho một sản phẩm mới, việc thuê bao nhiêu nguời bán hàng, việc chi tiêu bao nhiêu tiền cho các hoạt động quảng cáo cổ động, cho tới những việc nhỏ hơn như thay đổi ký tự ghi trên nhãn mác bao bì.
I. Tình trạng cầu và nhiệm vụ tiếp thị:
1. Cầu âm: thị trường của sản phẩm rơi vào tình trạng cầu âm khi đại bộ phận thị trường không ưa và thậm chí có thể trả tiền để tránh xa sản phẩm đó. Nhiệm vụ tiếp thị lúc này là phân tích vì sao thị trường có động thái như vậy, liệu một chương trình tái thiết kế, giảm giá bán, và các chương trình khuyến mãi có khả năng thay đổi lòng tin và thái độ thị trường hay không?
2. Cầu bằng 0: người tiêu dùng mục tiêu có thể không nhận biết hoặc không quan tâm tới sản phẩm. Nhiệm vụ tiếp thị đặt ra là tìm cách gắn tính hiệu dụng của sản phẩm với nhu cầu và lợi ích tự nhiên của khách hàng.
3. Cầu ẩn: nhiều người tiêu dùng có thể cùng có một nhu cầu lớn chưa được thoả mãn bởi các sản phẩm hiện có. Nhiệm vụ tiếp thị lúc này là đo lường độ lớn của thị trường tiềm năng và phát triển hàng hoá và dịch vụ để thoả mãn mức cầu đó.
4. Cầu giảm: bất kỳ tổ chức kinh doanh nào sớm muộn cũng phải đối mặt với sự suy giảm về cầu cho một hay nhiều sản phẩm. Chuyên gia tiếp thị phải phân tích nguyên nhân suy giảm và xác định liệu cầu có thể được tái kích thích bởi một thị trường mục tiêu khác, bởi việc thay đổi chi tiết sản phẩm, hoặc bởi phương thức truyền thông hiệu quả hơn hay không. Sau đó, doanh nghiệp có thể áp dụng một hình thức tái tiếp thị một cách sáng tạo để đảo ngược tình trạng cầu hiện tại.
5. Cầu bất thường: nhiều sản phẩm có mức cầu thay đổi theo mùa, theo ngày hay thậm chí theo giờ, gây ra sản xuất đình trệ hoặc làm việc quá tải. Nhiều máy móc thiết bị phải ngừng hoạt động trong thời gian đình trệ mà không đủ công suất để hoạt động trong những lúc cao điểm. Nhiệm vụ lúc này là tiếp thị đồng bộ (synchoromarketing) nhằm tìm kiếm phương thức thay thế giữa các nhu cầu thông qua chính sách giá linh hoạt và các chương trình khuyến mãi.
6. Cầu đủ: lúc này, doanh nghiệp bằng lòng với quy mô kinh doanh của mình. Nhiệm vụ tiếp thị là giữ mức cầu hiện tại trước khả năng sở thích của khách hàng có thể bị thay đổi hoặc cạnh tranh tăng lên. Doanh nghiệp cần duy trì và tăng chất lượng cũng như không ngừng đo lường độ thoả dụng của sản phẩm và dịch vụ đối với người tiêu dùng.
7. Cầu dư: cầu thị trường vượt quá khả năng hoặc mong muốn của doanh nghiệp. Chẳng hạn một công viên giải trí duy nhất của thành phố sẽ luôn có lượng khách quá đông. Nhiệm vụ lúc này là tiếp thị nguợc (demarketing), tìm phương thức tạm thời giảm cầu hoặc cũng có thể giảm vĩnh viễn. Doanh nghiệp có thể nâng giá bán, giảm chương trìh khuyến mãi và dịch vụ đi kèm. Tiếp thị ngược chọn lọc có thể giảm cầu ở những đoạn thị trường ít sinh lợi nhất.
8. Cầu không lành mạnh: các sản phẩm không lành mạnh sẽ tạo ra các nỗ lực có tổ chức nhằm giảm mức tiêu thụ của chính sản phẩm đó. Chẳng hạn các chiến dịch chống bán thuốc lá, rượu, ma tuý, súng đạn, … Nhiệm vụ tiếp thị lúc này là làm người tiêu dùng từ bỏ sản phẩm mà họ quen dùng, có thể sử dụng các công cụ như thông điệp cảnh báo, tằng giá và giảm cung.
II. Các hình thức thị trường:
Thị trường tiêu dùng: Các công ty bán hàng hoá và dịch vụ đại trà như đồ uống, thuốc đánh răng, ti vi, hay vé máy bay đều nỗ lực xây dựng một hình ảnh thương hiệu cao cấp. Điều này phụ thuộc vào người tiêu dùng mục tiêu, nhu cầu mà sản phẩm thoả mãn, thương hiệu có khả năng truyền thông mạnh mẽ và tạo được lòng tin. Sức mạnh của thuơng hiệu phụ thuộc rất lớn vào việc phát triển một sản phẩm cao cấp, đóng gói và gắn chặt với quảng cáo không ngừng và dịch vụ tin cậy. Nhiệm vụ tiếp thị tiêu dùng là quyết định chức năng, chất lượng, phạm vi phân phối, và chi tiêu cho khuyến mãi nhằm đạt vị trí cao nhất trên thị trường.
Thị trường đối tác: Các công ty bán hàng hoá và dịch vụ thường có các khác hàng chuyên nghiệp với thông tin đầy đủ có khả năng xác định đúng mức giá cạnh tranh. Đối tác mua hàng, thường là với số lượng lớn và thường xuyên, nhằm sản xuất hoặc bán lại sản phẩm cho người khác. Nói một cách khác, họ mua để tìm kiếm lợi nhuận. Nhiệm vụ tiếp thị đối tác là thể hiện lợi ích của sản phẩm đối với khả năng sinh lời của đối tác. Quảng cáo có một vai trò lớn, nhưng đáng kể hơn là lực lượng bán hàng, giá cạnh tranh và danh tiếng của công ty về độ tin cậy và chất lượng.
Thị trường toàn cầu: Các công ty bán hàng hoá và dịch vụ trên thị trường toàn cầu phải đưa ra nhiều quyết định hơn. Họ phải tính toán thị trường nước nào sẽ thâm nhập, thâm nhập bằng cách nào (với tư cách một nhà xuất khẩu, mở đại lý, liên doanh, hợp đồng sản xuất hoặc mở nhà máy riêng…), làm thế nào để sản phẩm thích ứng với thị trường từng nước, định giá thế nào tại các thị trường ở các nước khác nhau với mức chênh lệch đủ hẹp, truyền thông ra sao để phu hợp với văn hoá từng nước. Các quyết định đưa ra còn dựa trên các điều kiện pháp lý khác nhau, các cách thức thương lượng khác nhau, các yêu cầu khác nhau về mua, sở hữu và bán tài sản, các đồng tiền khác nhau, và tình trạng tham nhũng khác nhau …
Thị trường nhà nước và phi lợi nhuận: Các công ty bán hàng hoá và dịch vụ cho các tổ chức phi lợi nhuận (nhà thờ, trường học, cơ quan nhà nước…) cần định giá một cách thận trọng vì các tổ chức này có khả năng mua hạn chế. Giá thấp ảnh hưởng tới chức năng và chất lượng của sản phẩm và dịch vụ cung ứng. Nhiều nghiệp vụ nhà nước sử dụng phương thức đấu thầu và chấp nhận mức giá thấp nhất giữa các hồ sơ dự thầu cùng điều kiện.
Thể thao gắn với kinh doanh
Theo Times, L’Expansion
Trịnh Minh Giang
THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN
Số 33, Ngày 12/08/2004
Ngày 13-8, ngọn lửa thế vận hội sẽ lại được thắp sáng lên – lần này là trên sân vận động thành phố Athens, Hy Lạp. Các cuộc trình diễn thể thao ngoạn mục như thế vận hội thường hứa hẹn đem lại những nguồn thu khổng lồ.
Người ta đầu tư đến 3,86 tỉ đô-la Mỹ vào việc tổ chức và quảng bá cho Thế vận hội Athens 2004. Các chi phí tài trợ cũng đạt tới mức kỷ lục 1,2 tỉ đô-la Mỹ. Bởi lẽ các sự kiện thể thao như thế vận hội có thể thu hút hàng trăm ngàn người tới xem. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài phát thanh, báo viết và Internet, các sự kiện này còn thu hút được hàng tỉ người trên thế giới theo dõi. Một kênh tiếp thị khổng lồ.
Ngày càng nhiều tiền
Cũng không thể không nói đến lợi nhuận thu được từ quyền phát sóng, một trong những nguồn thu lớn nhất của thể thao chuyên nghiệp bên cạnh tiền bán sản phẩm, tiền thưởng, tiền đóng góp, tiền bán vé hoặc chuyển nhượng vận động viên. Cạnh tranh về quyền phát sóng ngày càng tăng khi cơ chế độc quyền của các đài phát thanh và truyền hình nhà nước được xóa bỏ. Số tiền bản quyền mà Hiệp hội Phát sóng châu Âu (EBU) trả cho Thế vận hội Athens 2004 và Bắc Kinh 2008 lên tới hơn 1,2 tỉ đô-la Mỹ mỗi kỳ. Thế vận hội Sydney 2000 cũng thế.
Như vậy, thể thao ngày nay đã thực sự gắn liền với các hoạt động kinh doanh. Nhờ có Euro 2004, tháng 6 vừa rồi, doanh số hàng tiêu dùng của Anh đã đạt mức cao nhất kể từ đầu năm, gấp ba lần chỉ tiêu mong đợi. Doanh số bán lẻ tăng 1,1% so với 0,7% của tháng 5 khi người dân Anh đổ xô đi mua truyền hình và quần áo thể thao, mặc dù doanh số các mặt hàng quần áo nói chung có giảm.
Ngay ở một nước nghèo như Myanmar, sự hâm mộ bóng đá cũng đã làm tăng doanh thu các loại áo thi đấu của các đội tuyển được yêu mến như Pháp, Anh, Ý và Bồ Đào Nha lên ít nhất 10%. Thậm chí, tại đây, áo của đội tuyển Anh được tiêu thụ hết sạch.
Ở Pháp, mỗi gia đình trung bình bỏ ra 350 euro mỗi năm cho quần áo và vật dụng thể thao. Trong vòng 25 năm, số lượng siêu thị chuyên bán đồ thể thao đã tăng gấp đôi, lên tới 11.000 siêu thị, thuộc các tập đoàn như Décathlon, Go Sport, Courir, Intersport, hay Sport 2000.
Tô điểm cho doanh nghiệp
Trong lĩnh vực sản phẩm liên quan tới bóng đá, các nhà phân tích cho rằng thị trường toàn cầu sẽ tăng từ hơn 3 tỉ đô-la Mỹ (trên 120 tỉ đô-la Mỹ của toàn bộ thị trường đồ thể thao) hiện nay lên tới gần 3,65 tỉ đô-la Mỹ khi World Cup 2006 diễn ra.
Và sau khi trận bóng đá cuối cùng của Euro 2004 mãn cuộc, lại diễn ra vòng đua nước Pháp (Tour de France, lần thứ 91). Trước khi các tay đua đi qua, người ta lại được xem một cuộc diễu hành quảng cáo của các nhà tài trợ, từ các tập đoàn sản xuất nước giải khát như Coca-Cola cho đến các hãng sản xuất xe hơi nổi tiếng.
Các công ty đều hiểu lợi ích của thể thao đối với các thương hiệu của mình. Cầu thủ Desailly quảng cáo cho hãng SFR chẳng hạn, nên chỉ được dùng điện thoại di động của SFR, còn Zidane thì sẽ được Danone cung cấp sữa chua trong vòng ba năm tới. Thể thao có những giá trị có thể tô điểm cho thương hiệu của một doanh nghiệp: năng động, sức trẻ, thẩm mỹ và đạo đức.
Nhưng chi tiêu cho tài trợ thể thao ngày càng phình ra, đòi hỏi các ông chủ phải cân nhắc kỹ lưỡng cũng như giám sát chặt chẽ hơn việc sử dụng vốn đầu tư. Các công ty tư vấn dường như nắm bắt được xu hướng ấy, Gide Loyrette Nouel, công ty tư vấn luật của Pháp, đưa ra hình thức tư vấn luật tài trợ thể thao, cung cấp các công cụ tính toán hiệu quả, thiết lập các chỉ số đầu tư dựa trên tần suất xuất hiện và kết quả thi đấu.
Công ty này còn soạn thảo các điều khoản duy trì hợp đồng với một vận động viên hoặc một sự kiện thể thao, quản lý quỹ tài trợ thể thao của các công ty lớn, qua đó hưởng phầm trăm trên lợi nhuận thu được.
Cần hiểu đúng dự án
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 2004
Trên lý thuyết, dự án có thể kéo dài 1 giờ, 100 giờ, 1000 giờ, vì vậy không phải lúc nào cũng cần một cấu trúc và quy tắc như đối với dự án lớn. Đối với các dự án từ 100 giờ trở lên cần xác định công việc và xây dựng kế hoạch thực hiện. Đối với các dự án lớn từ 5000 giờ, một hệ thống quản lý dự án hoàn chỉnh phải được thiết lập. Các dự án lớn hơn nữa có thể đòi hỏi người quản lý chia nhỏ thành các tiểu dự án trong cùng một tổng thể.
Nhiều người cho rằng tất cả mọi công việc đều là một dự án, điều này không hoàn toàn chính xác. Có rất nhiều loại công việc: hỗ trợ, vận hành, quản lý, dự án… Công việc hỗ trợ nhằm duy trì những giải pháp hiện thời đang được thực hiện. Đối với các chuyên viên IT, công việc này có thể là giải quyết các trục trặc của hệ thống sản phẩm. Đối với các nhân viên bán hàng, công việc này có thể là thông qua hợp đồng hay cập nhật dự liệu bán. Công việc vận hành bao gồm các hoạt động thường xuyên trong quá trình kinh doanh. Đối với một nhân viên kế toán, công việc này có thể là kiểm tra các báo cáo, cân đối tài khoản, viết bút toán và kết sổ… Công việc quản lý thì đòi hỏi điều hành và đưa ra các quyết định trong quá trình kinh doanh. Các công việc này đều mang tính chất thường xuyên vì đó là công việc của hôm qua, của ngày hôm nay, ngày mai hay thậm chí của năm sau.
Còn dự án không phải là một công việc thường xuyên. Điểm khác biệt lớn nhất đối với các công việc kể trên là dự án thường được xác định trước thời điểm bắt đầu và kết thúc. Có những khoảng thời gian mà trong đó công việc không tồn tại (thời gian trước dự án), công việc tồn tại (trong dự án), và không còn tồn tại nữa (sau dự án). Ngoài ra, dự án còn có các đặc điểm khác như phạm vi xác định, ngân sách hạn chế, kết quả đặc trưng và nguồn lực chuyên biệt. Một đặc điểm khác nữa là dự án mang tính duy nhất. Cho dù có một dự án khác tương tự được thực hiện thì mọi điều kiện đều đã thay đổi.
Xét tuyển
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 2004
Việc xét tuyển nhân viên mới có rất nhiều hình thức đa dạng. Doanh nghiệp có thể áp dụng từng phương pháp hoặc áp dụng tất cả các phương pháp cùng một lúc. Sau vòng sơ tuyển, có thể sử dụng các phương pháp xét tuyển như: phỏng vấn, kiểm tra, trắc nghiệm… Việc lựa chọn ứng viên thích hợp có thể được thực hiện theo nhiều vòng, mỗi vòng sử dụng một phương pháp xét tuyển riêng.
1. Xét tuyển qua thư xin việc, sơ yếu lý lịch và các bảng hỏi:
- Bước đầu tiên này nhằm chỉ triệu tập các ứng viên có hồ sơ tương đối phù hợp với vị trí cần tuyển. Các chuyên viên hoặc các văn phòng tuyển dụng chịu trách nhiệm đánh giá sơ bộ hồ sơ ứng viên thông qua thời gian và kinh nghiệm chuyên môn, hoạt động thực tế trong ngành, mối liên hệ giữa các môn học ban đầu với chương trình học tiếp theo, năng lực thật sự qua các công việc đã làm: vị trí, trách nhiệm được giao, kinh nghiệm quốc tế…
- Tuy nhiên bước đầu tiên này có thể bỏ qua những ứng viên thật sự có tiềm năng nhưng hồ sơ không thật khớp với yêu cầu. Ở Pháp, giai đoạn này thường lựa chọn khoảng trên dưới mười người.
2. Phỏng vấn ứng viên:
Phỏng vấn rất quan trọng nhằm giúp doanh nghiệp tiếp xúc trực tiếp với ứng viên. Các buổi phỏng vấn có thể chính thức hoặc không chính thức, nhưng đều đòi hỏi khâu chuẩn bị kỹ càng. Phỏng vấn đem lại cho các chuyên gia tuyển dụng:
- Ấn tượng chung về ứng viên.
- Khẳng định sự thích hợp của ứng viên đối với vị trí tuyển dụng.
- Trả lời các câu hỏi của ứng viên.
Phỏng vấn có thể được thực hiện hoặc đầu tiên hoặc cuối cùng trong quá trình tuyển dụng. Nội dung của buổi phỏng vấn xoay quanh vị trí tuyển dụng. Cũng có trường hợp phỏng vấn qua điện thoại nhằm làm sáng tỏ thêm các thông tin trong CV hoặc trong thư xin việc.
Phỏng vấn được phân loại theo kỹ thuật phỏng vấn hoặc hình thức phỏng vấn.
- Phỏng vấn bề sâu: người phỏng vấn có một dàn ý tổng quát về những nội dung sẽ nói tới không cần cấu trúc cụ thể. Người được phỏng vấn có thể được trình bày ý kiến của mình. Kiểu phỏng vấn này phụ thuộc nhiều vào trình độ của chuyên gia phỏng vấn.
- Phỏng vấn định hướng: dàn ý tổng quát của buổi phỏng vấn được biên soạn theo định hướng hoặc cấu trúc nhất định có khả năng làm bộc lộ một số phẩm chất của ứng viên so với những người khác.
- Phỏng vấn tập thể: buổi phỏng vấn có nhiều người tham gia. Có thể là hai người, một người chuyên trách nhân sự, một người chuyên trách nghiệp vụ cùng phỏng vấn một ứng viên. Có thể là nhiều ứng viên cùng được phỏng vấn một lúc nhằm bộc lộ cá tính của mỗi người qua tranh luận.
- Phỏng vấn áp lực: trong buổi phỏng vấn, nhiều doanh nghiệp cố tình tạo ra các tình huống gây áp lực để tìm hiểu phản ứng của ứng viên. Tình huống có thể gây cảm giác chán, buồn, xúc động… tương tự một số kỹ thuật phỏng vấn của ngành an ninh. Tất nhiên hình thức này rất hiếm được áp dụng.
- Phỏng vấn mô tả: phỏng vấn nhằm đánh giá hành vi của ứng viên. Ứng viên có thể phải minh họa các phương tiện đã từng sử dụng khi gặp khó khăn hay khi phải đảm bảo tiến độ công việc được giao phó.
Các kiểu phỏng vấn có thể được áp dụng riêng lẻ hoặc cùng nhau để có thể tối đa hoá chất lượng tuyển dụng.
3. Trắc nghiệm chuyên môn:
Các bài trắc nghiệm nhằm đánh giá khả năng chuyên môn của ứng viên khi làm việc độc lập cũng như làm việc theo nhóm. Bài trắc nghiệm như Career Maturity Inventory đo lường khả năng ra quyết định trong các tình huống khác nhau.
- Trắc nghiệm hiệu quả: dự đoán tiềm năng của ứng viên thông qua sự hiểu biết. Bài trắc nghiệm này không áp dụng cho các ứng viên chưa được đào tạo kỹ năng cần thiết cho vị trí tuyển dụng.
- Trắc nghiệm lý thuyết: đánh giá trình độ lý luận và kiến thức cơ bản của ứng viên chứ không phải khả năng sử dụng các kiến thức đó.
- Trắc nghiệm nhận biết: đặt ứng viên vào các mẫu công việc mà họ chưa từng thao tác để đánh giá khả năng nắm bắt hay nhận biết công việc.
4. Trắc nghiệm thông minh:
Các bài trắc nghiệm nhằm đo lường năng lực nhận thức, cơ học và tâm thần, cá tính, mối quan tâm, sự ưu tiên và tính liêm khiết của ứng viên. Tính hợp lệ và độ tin cậy của các bài trắc nghiệm rất quan trọng đối với ứng viên bởi nó đảm bảo tính công bằng của quá trình tuyển dụng.
Có thể phân loại các bài trắc nghiệm theo thông tin cần nắm bắt:
- Trắc nghiệm năng lực: đánh giá hiệu quả làm việc của ứng viên. Bài trắc nghiệm thường nhắm vào các năng lực cơ bản. Có nhiều bài trắc nghiệm đã được chuẩn hoá được dùng trong mọi trường hợp không chỉ riêng trong quá trình tuyển dụng: Wechsler Adult Intelligence Scale, Stanford Binet Test, Differential Aptitude Tests, Flanagan Aptitude Classification Test, General Aptitude Test Battery, Employee Aptitude Survey… có độ tin cậy cao.
- Trắc nghiệm tâm thần: đánh giá năng lực thể chất và tinh thần. Ví dụ hai bài trắc nghiệm nổi tiếng là Mac Quarrie Test for Mechanical Ability và O’Connor Finger and Tweezer Dexterity Tests.
- Trắc nghiệm cá tính: tìm hiểu cá tính của ứng viên và so sánh với yêu cầu đặt ra của công việc. Có thể kể tên các bài trắc nghiệm nổi tiếng như Ewards Personal Preference Schedule, California Psychological Inventory, Gordon Personal Profile, Thurston Temperament Survey, Guilford-Zimmerman Temperament Survey, Minnesota Multiphasic Personality Inventory…
- Trắc nghiệm trung thực: thường áp dụng cho những vị trí tuyển dụng cần đảm bảo tuyệt mật hoặc liên quan tới sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ. Bài trắc nghiệm này, có thể thông qua sự giúp đỡ của máy đo, còn cho phép đánh giá các quy chuẩn đạo đức. Máy đo được sử dụng để so sánh sự thay đổi nhịp thở, áp huyết và mạch đập qua đó đánh giá độ trung thực của lời nói. Ngoài ra, để tiết kiệm chi phí kỹ thuật, có thể áp dụng trắc nghiệm trung thực thông qua các câu hỏi cài bẫy có thể chỉ ra mâu thuẫn trong lời nói.
5. Kỹ thuật xem tướng chữ:
Các chuyên gia đánh giá ứng viên qua độ ấn bút, độ nghiêng và nét chữ, cách đặt lề và các khoảng cách trong bài viết tay. Có nguồn gốc từ Pháp, thuật xem tướng chữ có khả năng vẽ nên một bức chân dung toàn diện về người viết thông qua trình độ văn hoá, phản ứng cảm xúc, nhịp độ hoạt động, năng lực định hướng và phẩm chất đạo đức.
6. Mô phỏng công việc:
Còn gọi là bài kiểm tra thực hành, yêu cầu ứng viên thực hiện các công việc theo cấu trúc và điều kiện chuẩn mực. Chẳng hạn đối với vị trí thư ký, ứng viên có thể được yêu cầu soạn thảo một văn bản tại văn phòng mà người đó có thể sẽ được nhận vào làm. Hoặc có thể thực hiện một cuộc thảo luận nhóm không có người chủ trì, qua đó có thể tìm được người dẫn dắt cả nhóm.
7. Trung tâm đánh giá năng lực:
Ở các nước tiên tiến tồn tại một số trung tâm như vậy. Để khẳng định trình độ của mình, các ứng viên có thể đăng ký thi để lấy chứng chỉ của họ, thường là theo hình thức thí sinh tự do, giống như các chứng chỉ TOELF hay DALF về ngôn ngữ. Chẳng hạn ở Canada có các trung tâm như Commission de la Fonction Publique du Canada hay Hydro-Ontario et Northern Telecom…
8. Kiểm tra sức khoẻ, khả năng lao động:
Mỗi công việc có đòi hỏi khác nhau về sức khỏe. Việc khám sức khỏe có thể do bản thân doanh nghiệp thực hiện (thường là công ty lớn) hoặc do một tổ chức y tế tư nhân hoặc công cộng đảm trách và cấp giấy chứng nhận tình trạng sức khoẻ.
Nhu cầu tuyển dụng
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 2004
Trước khi đưa ra yêu cầu tuyển dụng chính thức, người quản lý phải xác định chính xác nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Các nhu cầu này có thể xuất phát từ nhiều lý do, chẳng hạn như nhằm thay thế nhân viên thuyên chuyển, cần thêm nhân viên trong thời kỳ cao điểm của sản xuất… Sau khi xác định được nhu cầu, bước tiếp theo là hình thành nhu cầu tuyển dụng thông qua mô tả vị trí cần tuyển, đặc điểm của ứng viên, và các kế hoạch sau khi tuyển được người thích hợp.
1. Xác định nhu cầu tuyển dụng:
- Tuyển dụng thay thế:
. Thay thế nhân viên xin thôi việc, bị sa thải… hoạt động tuyển dụng phải được thực hiện nhanh chóng để đảm bảo tính liên tục của công việc. Do thường có sức ép từ cấp trên đòi hỏi có ngay nhân viên thay thế, phòng quản lý nhân lực dễ có nguy cơ không đảm bảo chất lượng tuyển dụng.
. Thay thế tạm thời nhân viên đi vắng, bị bệnh… với một hợp đồng lao động có thời hạn (thường là ngắn). Hoạt động này cũng phải được thực hiện gấp rút để đảm bảo tính liên tục của công việc.
. Thay thế nhân viên được thăng chức, thuyển chuyển hoặc nghỉ hưu… Hoạt động này cần phải được chuẩn bị trước một khoảng thời gian, tốt nhất là trước khi nhân viên cũ rời khỏi chức vụ vì nhân viên cũ có thể giúp đỡ, hướng dẫn nhân viên trong việc hoà nhập với môi trường công tác.
- Tuyển dụng ứng phó: hoạt động này thường diễn ra khi doanh nghiệp nhận được khối lượng công việc lớn trong một khoảng thời gian nhất định. Để đảm bảo tiến độ sản xuất, doanh nghiệp sẽ cần tuyển dụng lao động trong khoảng thời gian đó. Cũng có thể tuyển dụng ứng phó trong trường hợp doanh nghiệp cần một vị trí nhân viên tạm thời, ví dụ nhân viên tiếp thị trong giai đoạn đầu sản phẩm mới tung ra thị trường… Hình thức này cũng chứa đựng rủi ro vì nhân viên sẽ thiếu động lực làm việc cũng như có thể thiếu trình độ chuyên môn đảm bảo cho năng lực cạnh tranh của toàn doanh nghiệp.
- Tuyển dụng ngẫu nhiên: hoạt động này thường xuất phát từ một yêu cầu xin việc của một ứng viên có tiềm năng lớn, của một nhân viên đang làm việc cho đối thủ cạnh tranh, cho khách hàng, cho nhà cung cấp… Đôi khi nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp lại ngẫu nhiên trùng hợp với yêu cầu xin việc.
- Tuyển dụng dự án: hoạt động này đi đôi với một dự án hay một chương trình của doanh nghiệp tạo ra nhu cầu lao động. Ví dụ một kế hoạch tiếp thị sang thị trường nước ngoài hay một dự án công nghệ cao.
- Tuyển dụng thường niên: hoạt động này phụ thuộc vào ngân sách và kế hoạch quản lý dự trù nguồn nhân lực. Ở một số tập đoàn lớn, thương lượng ngân sách giữa các giám đốc khu vực và tổng giám đốc thường bao gồm cả dự trù nhân lực và chi phí nhân lực. Kế hoạch này được thiết lập trên cơ sở các hoạt động trong năm tiếp theo, ước tính lượng nhân viên sẽ thôi việc, số vắng mặt…
Việc tuyển dụng cũng diễn ra theo phương thức không chính thống. Nhiều chủ doanh nghiệp tuyển dụng thêm các nhân viên khi gặp họ trong quá trình làm việc. Trình độ của các nhân viên này do vậy được người chủ doanh nghiệp nắm bắt rõ hơn.
2. Hình thành nhu cầu tuyển dụng:
Đây là hoạt động định nghĩa vị trí cần tuyển và điều kiện ứng viên.
- Vị trí cần tuyển thường được định nghĩa dựa trên hồ sơ của nhân viên đảm nhận trước đó nếu có. Nếu là một vị trí mới, cần áp dụng các phương pháp định nghĩa.
- Sau khi đã định nghĩa xong vị trí cần tuyển, doanh nghiệp cần xác định sẽ tuyển nhân viên:
. Từ bên trong (thăng chức, thuyên chuyển, tuyển dụng nội bộ) hay bên ngoài doanh nghiệp.
Hình thức tuyển dụng nội bộ thường bắt nguồn từ giá trị và truyền thống của doanh nghiệp hoặc từ chính sách nhân lực. Doanh nghiệp có thể có các phương tiện phát triển khả năng tuyển dụng nội bộ như: đánh giá nhân lực, kế hoạch đào tạo, phát triển đa năng, quản lý nghề nghiệp, quản lý dự trù nhân lực và trình độ nghiệp vụ. Ở nhiều doanh nghiệp hình thành một “thị trường lao động nội bộ”, ở đó mỗi vị trí cần tuyển sẽ được thông báo trong nội bộ doanh nghiệp trước. Việc tuyển dụng từ bên ngoài chỉ được xét đến nếu không tìm được ứng viên nội bộ thích hợp. Thông tin tuyển dụng có thể được thông báo trong toàn doanh nghiệp hoặc chỉ trong một bộ phận nào đó.
. Có bằng cấp, trình độ, kinh nghiệm chuyên môn như thế nào.
Việc đưa ra các điều kiện đối với ứng viên phụ thuộc vào một số yếu tố:
.. Định nghĩa của vị trí cần tuyển.
.. Luật lao động.
.. Chính sách nhân lực.
.. Truyền thống doanh nghiệp.
Đôi nét về tuyển dụng
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 2004
Tuyển dụng là một hoạt động tốn kém với kết quả thu được không thể hiện rõ ràng ngay lập tức. Tuyển dụng thường có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như các mối cân bằng xã hội.
Tuyển dụng là một hoạt động tốn kém với kết quả thu được không thể hiện rõ ràng ngay lập tức. Tuyển dụng thường có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như các mối cân bằng xã hội. Chi phí cho tuyển dụng bao gồm:
- Chi phí thời gian thông qua các cấp bậc trong doanh nghiệp cũng như các chuyên viên quản trị nhân lực trong việc xác định và xây dựng nhu cầu tuyển dụng.
- Thù lao phải trả cho các văn phòng tuyển dụng.
- Chi phí thời gian trong việc duyệt các thư và hồ sơ xin việc cũng như phỏng vấn ứng viên.
- Chi phí liên quan tới việc sắp xếp cho nhân viên mới, mất mát gây ra do năng suất của nhân viên mới dưới mức bình thường trong khoảng thời gian làm quen với công việc cũng như thích nghi với môi trường làm việc.
Ở Pháp, hàng năm các doanh nghiệp tuyển dụng khoảng 11,7% nhân lực để bù đắp số lượng nhân viên ra đi, để đảm bảo đổi mới các hợp đồng lao động có thời hạn và cũng có thể nhằm tăng thêm số lượng nhân viên.
Tuyển dụng còn phải góp phần làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như tương hợp với bản sắc của doanh nghiệp, bản sắc của từng đơn vị hay từng nhóm làm việc trong doanh nghiệp.
Bài học cho các hãng hàng không lớn của châu Âu
TRỊNH Minh Giang
vietmanagement.com | 21.03.2002
Một bài viết về chiến lược chi phí tối thiểu của các hãng hàng không nhỏ như Ryanair, Go và Buzz, trong cuộc đối đầu với các ông anh lớn của thị trường hàng không châu Âu British Airways, Air France, sau sự kiện khủng bố đánh vào Trung tâm thương mại của Mỹ ngày 11/9 năm 2001.
Trong khi các hãng hàng không lớn của châu Âu đang đứng trên bờ vực phá sản thì các hãng non trẻ với chiến lược chí phí tối thiểu (low-cost) lại thành công lớn.
Sự kiện ngày 11/9 đã tác động mạnh tới ngành Hàng không thế giới nói chung và hàng không châu Âu nói riêng. British Airways (BA), hãng hàng không lớn nhất Anh quốc đã thông báo lỗ trong quí III là 144 triệu USD, quí IV/ 2001 lên tới 270 triệu USD, doanh thu giảm 20% còn 1,8 tỷ USD. Hiện nay, BA đang phải đối mặt với khoản lỗ lớn nhất trong vòng 15 năm kể từ khi tư nhân hoá và giảm 60% số chuyến bay tại sân bay Gatwick – London cho đến mùa hè 2003, bán 2 chiếc Boeing 777 đầu năm 2002 và tiếp theo là 5 chiếc Boeing đường dài khác. Còn Air France, sau khi tuyển dụng 4500 nhân viên từ tháng 3/2000 đến 3/2001, hãng dự định sẽ tuyển thêm 3500 nhân viên đến 3/2002. Tuy nhiên chương trình này đã bị đình chỉ vì mật độ bay giảm đáng kể.
Hiện nay, vừa phải đối phó với khủng hoảng của ngành, các hãng hàng không lớn lại càng đau đầu trước sức mạnh của các hãng hàng không nhỏ, được giới kinh doanh đặt cho cái tên “low-cost”, với chiến lược: giá cạnh tranh, chí phí tối thiểu và chính sách thương mại lấn lướt.
Hoạt động chủ yếu từ London, hiện có bốn công ty đang cạnh tranh gay gắt trên thị trường hàng không giá rẻ của châu Âu là Ryanair của Ireland (44% thị phần), Easy Jet (33%) và Go (từng thuộc British Airways chiếm 17%) của Anh và Buzz (thuộc KLM chiếm 6%) của Hà Lan.
Với chiến lược giảm phí, quí IV/ 2001, lợi nhuận ròng của Ryanair là 25,8 triệu USD, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi nhiều hãng hàng không khác phải chịu ảnh hưởng từ sự kiện 11/9, Ryanair vẫn tiếp tục thực hiện những chuyến bay kín khách và không hề ngưng bất kỳ tuyến bay nào. Hãng cũng vừa tuyên bố mở rộng dịch vụ và đặt hàng 150 máy bay Boeing 737-800 với thời hạn giao hàng 2002-2010. Hãng cho biết, nhu cầu đi lại với chi phí thấp tại châu Âu là vô hạn. Chính vì vậy, họ đã thành công tại Anh và có mặt trên 56 thành phố, nhưng vẫn chưa thể vươn tới những thị trường rộng lớn hơn tại Đức, Pháp, Italy hay Tây Ban Nha. Năm 2001, Ryanair đã phục vụ 10,24 triệu hành khách. Công ty đặt mục tiêu 40 triệu hành khách, vượt BA từ nay cho đến năm 2010. Ryanair đang có kế hoạch sử dụng Hahn, sân bay quân sự cũ của Mỹ tại Frankfurt để cạnh tranh trực tiếp với hãng hàng không Đức Lufthansa ngay trên chính thị trường nội địa của họ.
Đối thủ chính của Ryanair, Easy Jet, có những chiến lược ít tham vọng hơn. Easy Jet đang thượng lượng với Boeing và Airbus để mua 75 máy bay từ nay cho đến 2007 trị giá khoảng 4 tỷ USD. Hiện nay, Easy Jet đang hoạt động với 26 máy bay và 1388 nhân viên. Năm 1996, Easy Jet mới chỉ vận chuyển 420.000 hành khách nhưng đến năm 2001, lượng hành khách đã lên tới 7,66 triệu với các tuyến bay tới 17 thành phố.
Go – công ty bị BA bán đi với giá 115 triệu USD, đã tăng 23,4% vốn trong vòng 12 tháng qua. Năm 2001, lượng khách của Go là 4 triệu với 800 nhân viên, 18 máy bay và phục vụ trên 25 thành phố.
Cuối tháng 3 tới, Buzz sẽ là công ty low-cost đầu tiên mở tuyến bay nội địa trong đất Pháp. Lượng khách năm 2001 của Buzz, là 1,3 triệu với 350 nhân viên, 10 máy bay và phục vụ trên 17 thành phố.
Tất cả các công ty low-cost đều sử dụng các sân bay thứ yếu hoặc ngoại vi để tránh bị đánh thuế nặng. Tại London, Easy Jet sử dụng chủ yếu sân bay Luton. Còn Ryanair, Go và Buzz thì sử dụng sân bay Stanstead. Co. Trên tất cả các chuyến bay của các low-cost, hành khách chỉ có chung một hạng ghế. Các hãng này đều nỗ lực tự bán vé thông qua điện thoại và internet để không phải mất chi phí hoa hồng cho các đại lý. Easy Jet đã bán trực tuyến 90% chỗ trên các chuyến bay của mình. Còn Ryanair cho biết 92% vé của họ được bán qua trang Web. Rõ ràng Ryanair đã có được phương thức quản lý các nguồn lực có hiệu quả. Nếu chuyến bay nào của hãng chỉ có 75% khách, lập tức 25% còn lại sẽ được chào bán với giá cực kỳ hấp dẫn. Điều này khiến nhiều khách hàng muốn thử bay với Ryanair.
Với chiến lược giảm thiểu chi phí hết sức thông minh, các low-cost dường như đã cho các ông anh lớn của mình bài học để đời. Và sắp tới một low-cost nữa sẽ ra đời: Bmibaby, công ty con của British Midland, hãng hàng không lớn thứ hai Anh quốc.
Thời báo Quốc Tế
Số 12 (480), ra ngày 21.3.2002
http://www.mofa.gov.vn:8080/tbqt/12,02/kttg12,02.htm
Các loại Quỹ đầu tư
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 1999
Là hình thức chung vốn đầu tư nhằm tăng tính chuyên nghiệp của hoạt động đầu tư, Quỹ đầu tư được thành lập dưới nhiều hình thức. Việc phân loại Quỹ đầu tư trên thế giới hiện nay chủ yếu dựa vào 4 tiêu chí chính sau: Chủ thể đầu tư, Đối tượng đầu tư, Cơ cấu huy động vốn và Cơ chế quản lý.
Phân loại theo Chủ thể đầu tư
Quỹ đầu tư tư nhân: Do một số tổ chức và cá nhân góp vốn và thuê Công ty quản lý Qũy nhằm mục đích đầu tư vốn của mình một cách có lợi nhất và đảm bảo quản lý chặt chẽ vốn đầu tư. Do việc huy động vốn của Quỹ chỉ hạn chế trong một số tổ chức và cá nhân nên họ có thể đầu tư vào những dự án dài hạn, có tiềm năng phát triển cao và mức độ rủi ro lớn. Các Quỹ này thường đầu tư vào chứng khoán của những công ty chưa niêm yết. Khi những công ty này phát triển đến mức độ nhất định, họ bán lại những chứng khoán nắm giữ để thu hồi vốn. Quỹ đầu tư tư nhân thường mang hình thái của Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm.
Quỹ đầu tư tập thể: Chứng chỉ góp vốn của Quỹ đầu tư tập thể được phép mua bán rộng r•i trên thị trường. Do số lượng người góp vốn rất nhiều và phần lớn là các cá nhân – những nhà đầu tư không chuyên nên hầu hết các nước đều có những quy định hết sức chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của những người đầu tư.
Phân loại theo đối tượng đầu tư
1. Quỹ đầu tư cổ phiếu (stock fund):
- Quỹ đầu tư tăng trưởng (growth fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn, thu nhập cổ tức không phải là yếu tố chính yếu. Các Quỹ này đầu tư vào cổ phiếu thường của các công ty có chiều hướng tăng trưởng cao.
- Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm (venture capital fund hay hedging fund) theo đuổi sự tăng trưởng tối đa về vốn, thu nhập cổ tức không phải là yếu tố chính yếu. Các Quỹ này đầu tư vào các cổ phiếu của công ty mới, công ty đang gặp khó khăn hay thuộc các ngành tạm thời không được ưa chuộng. Các Quỹ này có thể sử dụng các kỹ thuật đầu tư đòi hỏi mức rủi ro cao hơn trung bình.
- Quỹ đầu tư tăng trưởng và thu nhập (growth and income fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn dài hạn và thu nhập hiện tại. Các Quỹ này đầu tư vào cổ phiếu thường của các công ty có giá trị cổ phần tăng lên và có một tiền sử trả cố tức vững chắc.
- Quỹ đầu tư vàng và kim loại quý (precious metals/ gold fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn. Danh mục đầu tư của các Quỹ này gồm chủ yếu các chứng khoán kết hợp với vàng và các kim loại quý khác.
- Quỹ đầu tư chọn vốn (capital selection fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn. Các Quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo quy mô vốn của công ty, có thể là công ty vốn lớn, trung bình hoặc vốn nhỏ.
- Quỹ đầu tư chọn ngành (industry selection fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn. Các Quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo vị thế của ngành hoặc theo một số tiêu chuẩn riêng của Quỹ. Hình thức đầu tư này đi ngược lại nguyên tắc đa dạng hoá danh mục đầu tư, nó tạo những rủi ro không thể lường trước.
- Quỹ đầu tư chỉ số (index fund) theo đuổi mức thu nhập hiện tại cao. Danh mục quản lý của các Quỹ này được quản lý theo một chỉ số chứng khoán nhất định. Danh mục chứng khoán của Quỹ luôn giữ một tỷ lệ theo sự thay đổi của chỉ số đó.
- Quỹ đầu tư quốc tế (international fund) theo đuổi tăng trưởng trong giá trị các khoản đầu tư. Danh mục đầu tư gồm chủ yếu các cổ phiếu của các công ty nằm ngoài nước.
- Quỹ đầu tư toàn cầu (global equity fund) theo đuổi tăng trưởng trong giá trị các khoản đầu tư. Các Quỹ này đầu tư vào các cổ phiếu được giao dịch trên toàn thế giới, kể cả các cổ phiếu trong nước.
- Quỹ đầu tư thu nhập – vốn cổ phần (income-equity fund) theo đuổi mức thu nhập cao bằng việc đầu tư chủ yếu vào các cổ phiếu và công ty có tiền sử trả cổ tức tốt.
2. Quỹ đầu tư trái phiếu và thu nhập (bond and income fund):
- Quỹ đầu tư trái phiếu chuyển đổi (convertible bond fund) theo đuổi mức thu nhập hiện tại và sự tăng trưởng vốn trong tương lai. Các Quỹ này đầu tư vào các trái phiếu kèm theo quyền được chuyển đổi sang cổ phiếu thường theo các điều kiện cam kết.
- Quỹ đầu tư thu nhập – trái phiếu (income-bond fund) theo đuổi mức lợi nhuận hiện tại cao. Các Quỹ này đầu tư vào một tập hợp các trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ.
- Quỹ đầu tư thu nhập chính phủ (government income fund) theo đuổi lợi nhuận hiện tại. Các Quỹ này đầu tư vào nhiều loại chứng khoán chính phủ bao gồm trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu thế chấp…
- Quỹ đầu tư trái phiếu toàn cầu (global bond fund) theo đuổi một mức thu nhập cao. Danh mục đầu tư của các Quỹ này chủ yếu gồm các chứng khoán nợ của các công ty và các quốc gia trên toàn thế giới, kể cả các chứng khoán nợ quốc gia.
- Quỹ đầu tư trái phiếu công ty (corporate bond fund) theo đuổi một mức thu nhập cao. Danh mục đầu tư của các Quỹ này chủ yếu gồm các trái phiếu công ty và một tỷ lệ trái phiếu kho bạc nhất định.
- Quỹ đầu tư trái phiếu lợi suất cao (high-yield bond fund) theo đuổi một lợi suất cao nhưng chứa đựng một mức rủi ro cao hơn các Quỹ trái phiếu công ty. Danh mục đầu tư của các Quỹ này gồm chủ yếu các trái phiếu của các công ty bị đánh giá thấp.
- Quỹ đầu tư trái phiếu địa phương dài hạn (municipal bond fund-long-term) theo đuổi thu nhập không bị đánh thuế bởi chính phủ. Các Quỹ này đầu tư vào các trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành nhằm cung cấp vốn cho các công trình địa phương như trường học, bệnh viện, cầu đường…
3. Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ (money market fund)
- Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ chịu thuế (taxable money market fund) theo đuổi việc duy trì một giá trị tài sản thuần bền vững. Các Quỹ này đầu tư vào các chứng khoán hảo hạng, ngắn hạn được bán trên thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng lớn và thương phiếu. Kỳ hạn trung bình của danh mục đầu tư các Quỹ này thường được giới hạn từ 3 tháng trở xuống.
- Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ miễn thuế (tax-exempt money market fund) theo đuổi thu nhập không bị đánh thuế bởi chính phủ với mức rủi ro thấp nhất. Các Quỹ này đầu tư vào các chứng khoán địa phương với kỳ hạn tương đối ngắn.
4. Một số Quỹ khác:
- Quỹ đầu tư danh mục linh hoạt (flexible portfolio fund) cho phép các nhà quản lý tham gia hoặc phản ứng với các thay đổi điều kiện thị trường bằng việc đầu tư và cổ phiếu, trái phiếu hay các công cụ của thị trường tiền tệ.
- Quỹ đầu tư cân đối (balanced fund) nói chung theo các nguyên tắc của các nhà đầu tư, thu nhập hiện tại và đạt tăng trưởng dài hạn. Danh mục đầu tư của các Quỹ này là tập hợp các trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường.
Phân loại theo cơ cấu huy động vốn
Quỹ đầu tư dạng đóng (closed-end fund): Không mua lại các chứng chỉ mà Quỹ đã phát hành, Quỹ đóng huy động vốn thông qua phát hành chứng chỉ từng lần một. Nhà đầu tư không mua được chứng chỉ Quỹ ở các lần phát hành tập trung thì chỉ có thể mua lại ở thị trường chứng khoán thứ cấp từ những cổ đông hiện tại giống như giao dịch các cổ phiếu. Quỹ không có liên quan gì tới những giao dịch này. Vì vậy, Quỹ đóng còn có tên là Quỹ giao dịch công cộng (publicly-traded fund). Chứng chỉ Quỹ đóng có thể được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc chỉ được giao dịch trên thị trường chứng khoán phi tập trung OTC (Over The Counter ) và được giao dịch giống như cổ phiếu thường.
Quỹ đóng có cơ cấu vốn ổn định nên có lợi thế trong việc đầu tư vào các dự án dài hạn và các chứng khoán có tính thanh khoản thấp. Tuy vậy, chứng chỉ Qũy đóng không có tính thanh khoản cao nên thị giá thường thấp và thời gian thu hồi vốn lâu.
Quỹ đầu tư dạng mở (open-end fund): Phát hành chứng chỉ liên tục để huy động vốn và sẵn sàng mua lại chứng chỉ mà Quỹ đã phát hành theo giá trị tài sản ròng. Việc mua bán chứng chỉ Quỹ có thể thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư và công ty quản lý Quỹ, không phải thông qua thị trường chứng khoán với giá mua = giá trị tài sản ròng của Quỹ + phí bán. Phương pháp tính giá mua sẽ được nêu ở phần Hoạt động của Quỹ đầu tư.
Do cơ cấu vốn không ổn định vì người đầu tư có thể rút vốn bất kỳ lúc nào nên Quỹ mở phải đầu tư vào rất nhiều loại chứng khoán khác nhau. Vì vậy, góp vốn vào Quỹ mở, người đầu tư có thể nắm giữ một danh mục đầu tư hết sức đa dạng. Người đầu tư có thể nhận cổ tức hoặc tái đầu tư vào Quỹ bằng cách yêu cầu được mua thêm chứng chỉ mới. Quỹ mở thường được gọi phổ biến là Quỹ hỗ tương (mutual fund).
Ngoài ra còn có một số dạng khác xuất phát từ hai hình thái trên:
- Quỹ bán mở: có sự hạn chế hơn so với Quỹ mở. Nhà quản lý Quỹ đồng ý mua cổ phiếu từ các cổ đông tại mức giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu tại các thời gian định trước.
- Quỹ tín thác đơn vị UIT (unit investment trust): được thành lập theo một chứng thư uỷ thác hay một công cụ tương đương về tính pháp lý. Vốn đóng góp cũng như mọi đầu tư bằng vốn đóng góp sẽ do cá nhân hoặc tổ chức được uỷ thác giữ. Ban đầu, khi thành lập Quỹ, nhà tư vấn đầu tư thu xếp gộp vào trong một danh mục đầu tư rồi phân ra thành các đơn vị (giống như các cổ phần thường) để bán cho người đầu tư qua môi giới. Các đơn vị thường được bán theo giá trị tròn số (Mỹ: 1.000USD) trong lần phát hành đầu tiên. Các nhà môi giới, bảo lãnh phát hành sẽ đồng thời là người duy trì hoạt động mua bán các đơn vị đó. Giá các đơn vị sẽ tuỳ thuộc vào giá các chứng khoán trong danh mục đầu tư của Quỹ. Người mua các đơn vị đầu tư này phải trả một khoản phí ban đầu cho người môi giới bán, thường là 4%. Chính khoản phí cao như vậy mà các nhà đầu tư ngắn hạn thấy không có lợi khi đầu tư vào loại quỹ này.
Phân loại theo cơ chế quản lý Quỹ
Có hai mô hình quản lý Quỹ đầu tư: mô hình công ty (corporate) và mô hình tín thác (contractual)
Mô hình công ty: Quỹ đầu tư có tư cách pháp nhân đầy đủ, được thành lập dưới hình thức công ty đầu tư cổ phần, có điều lệ hoạt động, vốn huy động từ các nhà đầu tư bằng cách phát hành cổ phiếu. Cổ phiếu của Quỹ có thể được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC.
Những người góp vốn vào Quỹ sẽ trở thành những cổ đông được quyền hưởng cổ tức và biểu quyết bầu Hội đồng quản trị cũng như các vấn đề cơ bản của Quỹ như các cổ đông trong một công ty cổ phần truyền thống.
Điểm đặc trưng của công ty đầu tư là Hội đồng quản trị đại diện cho các cổ đông đứng ra thuê công ty quản lý Quỹ và Ngân hàng bảo quản. Hội đồng quản trị sẽ giám sát hoạt động của 2 tổ chức này theo kiểu “tam quyền phân lập”: Hội đồng quản trị đề ra chính sách và giám sát, Công ty quản lý Quỹ thực hiện đầu tư còn Ngân hàng bảo quản nắm giữ tài sản.
Việc phân quyền như vậy nhằm đảm bảo việc tài sản không thuộc quyền định đoạt hoàn toàn của bất kỳ ai. Công ty quản lý Quỹ, với vai trò của nhà đầu tư chuyên nghiệp, sẽ tối ưu hoá hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, việc bảo đảm an toàn và lưu giữ các tài sản, đặc biệt là chứng khoán, một cách khoa học cũng như việc tiến hành thu – chi, thanh toán thì không ai khác ngoài một ngân hàng có thể đảm đương được. Bên cạnh đó, việc phân quyền cũng nhằm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư vì các Quỹ đầu tư được bắt đầu từ con số “0” và khối lượng vốn huy động là không hạn chế trong khi các ngân hàng hay các loại hình công ty khác luôn phải có mức vốn tự có tối thiểu để hoạt động.
Tuy là một công ty cổ phần nhưng công ty đầu tư không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật công ty mà còn phải chịu sự điều chỉnh khá phức tạp của các luật liên quan tới tín thác đầu tư chứng khoán.
Mô hình tín thác: Quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân. Với mô hình này, Quỹ đầu tư chỉ được coi là một khối lượng tiền do các nhà đầu tư góp vốn để sử dụng dịch vụ quản lý đầu tư chuyên nghiệp nhằm thu lợi nhuận. Quỹ không có Hội đồng quản trị, hoạt động trên cơ sở Chứng thư tín thác (trust deed) được ký kết giữa công ty quản lý Quỹ và Ngân hàng giám sát bảo quản. Chứng thư tín thác, được sự phê chuẩn của Bộ tài chính hoặc cơ quan chức năng, quy định mọi vấn đề đối với hoạt động của Quỹ nhằm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư.
Công ty quản lý Quỹ khi thành lập phải chuẩn bị Bản cáo bạch phát hành để cung cấp những thông tin cần thiết về Công ty quản lý Quỹ và các thông tin về việc phát hành chứng chỉ Quỹ đầu tư, giá bán, phương tức định giá, số lượng phát hành, thuế và các thủ tục hành chính …
Người đầu tư vào Quỹ đầu tư theo mô hình tín thác không được gọi là một cổ đông vì họ chỉ có quyền nhận lợi tức từ số vốn góp mà không có quyền bầu cử và các quyền khác như mô hình công ty. Vì thế, người đầu tư lúc này được gọi là người thụ hưởng (beneficiary) và chứng chỉ Quỹ đầu tư được gọi là chứng chỉ hưởng lợi.
Do không có Hội đồng quản trị, chức năng giám sát và đề ra chính sách sẽ được san sẻ cho Công ty quản lý Quỹ và Ngân hàng giám sát bảo quản. Cụ thể là Công ty quản lý Quỹ nắm quyền quản lý và đề ra chính sách còn Ngân hàng sẽ nắm quyền giám sát và bảo quản tài sản.
Trên đây đề cập nhiều tới tín thác đầu tư. Vậy tín thác đầu tư là gì?
Tín thác đầu tư chứng khoán là việc đầu tư một tài sản đã được uỷ thác của Quỹ đầu tư theo mô hình tín thác do người được uỷ thác tiến hành đầu tư vào một số chứng khoán nhất định và được tuân thủ theo sự chỉ dẫn của người quản lý nhằm tạo điều kiện cho một số người có quyền hưởng lợi từ hoạt động liên quan tới tài sản được uỷ thác.
Trong mô hình tín thác, Công ty quản lỹ Quỹ cần phải có vốn lớn. Quỹ đầu tư mô hình tín thác chỉ chịu sự điều chỉnh của các Luật liên quan tới tín thác đầu tư chứng khoán.
Tham khảo:
- Mutual Fund Fact Book, Investment Company Institute, 1997, 37th Edition.
- The Regulation of Non – Bank Financial Institutions – Edited by Anjali Kumar, Word Bank, 1997.
- Investment Trust Management System – Training Materials, Korea Investment Trust Co., Ltd, 1998.
Trịnh Minh Giang
(trích luận văn tốt nghiệp)
11/1999
VietManagement
Vai trò của Quỹ đầu tư
Trịnh Minh Giang
vietmanagement.com | 1999
Nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, nhất thiết phải có nhiều vốn đầu tư. Nhưng làm thế nào để các tổ chức hay cá nhân đang nắm giữ những nguồn vốn nhàn rỗi và các doanh nghiệp đang có ý tưởng kinh doanh khả thi có thể gặp và hợp tác với nhau, cùng tìm cơ hội kinh doanh có lợi nhất. Các định chế tài chính trung gian ra đời chính là đáp ứng nhu cầu cần những chiếc “cầu nối” giữa người có vốn và người cần vốn.
Là một trong các định chế trung gian tài chính phi ngân hàng, Quỹ đầu tư có nhiều điểm nổi bật so với các trung gian tài chính khác với vai trò:
Huy động vốn cho phát triển kinh tế
Như ở trên đã nói, để phát triển bền vững rất cần những nguồn vốn trung và dài hạn. Quỹ đầu tư tạo ra hàng loạt các kênh huy động vốn phù hợp với nhu cầu của cả người đầu tư lẫn người nhận đầu tư. Các nguồn vốn nhàn rỗi riêng lẻ trong công chúng do vậy sẽ được tập trung lại thành một nguồn vốn khổng lồ, thông qua Quỹ đầu tư sẽ được đầu tư vào các dự án dài hạn, đảm bảo được nguồn vốn phát triển vững chắc cho cả khu vực tư nhân lẫn khu vực nhà nước.
Không những thế, các Quỹ đầu tư còn khuyến khích được dòng chảy vốn nước ngoài. Đối với luồng vốn gián tiếp, việc đầu tư vào Quỹ sẽ loại bỏ các hạn chế của họ về giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp, về kiến thức và thông tin về chứng khoán cũng như giảm thiểu các chi phí đầu tư. Đối với luồng vốn đầu tư trực tiếp, Quỹ đầu tư góp phần thúc đẩy các dự án bằng cách tham gia góp vốn vào các liên doanh hay mua lại một phần vốn của bên đối tác, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc thu hồi vốn cũng như tăng được sức mạnh trong nước ở các liên doanh.
Bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư
Đa dạng hoá danh mục đầu tư – phân tán rủi ro: Việc phân tán rủi ro đối với một khoản tiền khiêm tốn sẽ vấp phải vấn đề trị giá của các chứng khoán trong danh mục đầu tư, nhất là các chứng khoán đựoc niêm yết trên sở giao dịch thường được giao dịch theo lô chẵn. Các khoản vốn nhỏ ấy tuy vậy lại có thể phân tán rủi ro một cách dễ dàng khi chúng được tập trung lại trong một Quỹ đầu tư. Khi đó tất cả các nhà đầu tư dù lớn hay nhỏ đều được tham gia chung vào mọi dự án đầu tư của Quỹ, cùng chia sẻ rủi ro và lợi nhuận.
Tăng tính chuyên nghiệp trong quản lý và đầu tư: Quỹ đầu tư với các nhà tư vấn đầu tư chuyên nghiệp, nhân viên có trình độ và kiến thức chuyên sâu, với nguồn thông tin đa dạng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với các nhà đầu tư riêng lẻ
Giảm thiểu chi phí do lợi ích về quy mô: Các chi phí về thông tin, chi phí hành chính, trở ngại lớn đối với các nhà đầu tư riêng lẻ sẽ giảm thiểu khi được xử lý tập trung. Quỹ với tư cách là nhà đầu tư lớn luôn nhận được các ưu đãi về chi phí giao dịch cũng như dễ tiếp cận với các dự án hơn.
Tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư: Việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt với chi phí thấp nhất trong thời gian ngắn nhất luôn là tiêu chí hàng đầu đối với mỗi nhà đầu tư. Chứng chỉ Quỹ đầu tư chính là một loại chứng khoán, do vậy, người đầu tư hoàn toàn có thể mua bán nó trên thị trường chứng khoán hoặc bán lại cho bản thân Quỹ (nếu là Quỹ đầu tư dạng mở).
Thuận tiện cho người đầu tư: Người đầu tư có thể mua hoặc bán chứng chỉ Quỹ đầu tư trực tiếp hoặc thông qua môi giới, trung gian. Việc mua bán có thể thông qua thư tín, điện thoại hay hệ thống mạng máy tính. Các nhà đầu tư có thể thoả thuận với Quỹ để tái đầu tư tự động (automatic reinvestment) hoặc phân chia lợi nhuận theo từng thời kỳ. Nhà đầu tư còn được Quỹ cung cấp các dịch vụ như thông tin và tư vấn.
Đối với các doanh nghiệp
Nhận được nguồn vốn với chi phí huy động thấp: Việc tiếp cận các nguồn vốn tiết kiệm nhỏ từ các cá nhân qua hệ thống ngân hàng luôn phải đối phó với những thủ tục rườm rà (đảm bảo khoản vay với các chứng từ tài chính và tài sản …). Thông qua Quỹ đầu tư, việc huy động vốn chỉ đơn thuần là phát hành chứng khoán với chi phí giảm đáng kể.
Nhận được các thông tin tư vấn quản lý, marketing và tài chính: Quỹ đầu tư cung cấp các thông tin tài chính, tư vấn về kế hoạch tài chính, marketing và các mối quan hệ với các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp khác. Lợi ích này của Quỹ đầu tư được đặc biệt đánh giá cao với các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ, và nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi.
Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn: Lợi ích này thu được do sự kết hợp các công cụ huy động vốn của Quỹ. Đó là các loại chứng khoán do Quỹ phát hành, cùng với hoạt động của thị trường chứng khoán cho phép trao đổi, mua bán các loại chứng khoán đó. Sự kết hợp này khuyến khích các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có khả năng đầu tư dài hạn, cung cấp nguồn tài chính vô cùng cần thiết cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Tham khảo:
- Mutual Fund Fact Book, Investment Company Institute, 1997, 37th Edition.
The Regulation of Non – Bank Financial Institutions – Edited by Anjali Kumar, Word Bank, 1997.
- Investment Trust Management System – Training Materials, Korea Investment Trust Co., Ltd, 1998.
Trịnh Minh Giang
(trích luận văn tốt nghiệp)
11/1999
VietManagement
